- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lò Văn C 03 (Ba) năm 02 (hai) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2026/HS-ST Ngày 22 - 02 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương
Bà Bạc Thị Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn C, sinh năm 1981; Nơi sinh: Tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú: Bản Ph M, xã P G, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Khơ mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn Hặc, đã chết và bà Lý Thị Đ, sinh năm 1960; Vợ chị Lò Thị B, sinh năm 1983; có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo chưa bị Toà án nào xét xử và chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Toà án xét xử.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại phân trại Trại tạm giam Mường Thanh, trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên từ ngày 09/9/2025 cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 09/9/2025, Lò Văn C đi bộ một mình từ nhà ở Bản Phiêng Muông B, xã Phình Giàng, tỉnh Điện Biên đến khu vực đầu bản Hồi Hương, xã Mường Nhà, tỉnh Điện Biên mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại đây, C gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 70.000 đồng. Mua xong, C cất gói Heroine vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Hồi 13 giờ 00 cùng ngày, khi C đang đi trên đường thuộc bản Hồi Hương, xã Mường Nhà, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã Mường Nhà, tỉnh Điện Biên phối hợp với Đồn Biên phòng Huổi Puốc-Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên - Bộ chỉ huy Bộ đội tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải C đang mặc 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa 0,17 gam Heroine.
Vật chứng thu giữ gồm: 0,17 gam Heroine, đã gửi toàn bộ giám định, vật chứng còn lại sau giám định là 0,05 gam; 01 mảnh nilon màu hồng.
Tại bản kết luận giám định số: 954/KL-KTHS ngày 17/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu bột màu gửi giám định là chất ma túy: Khối lượng vật chứng: 0,17gam là chất ma túy: Loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, túy STT: 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 0,05 gam Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 30/CT-VKSKV2 ngày 23/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS): 0,17gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định, sau giám định hoàn lại 0,05 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của xã bị cáo xin miễn án phí hình sư sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người quả tang, biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng chất ma tuý; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 09/9/2025, tại khu vực thuộc bản Hồi Hương, xã Mường Nhà, tỉnh Điện Biên, Lò Văn C đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,17 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân bị cáo. Hành vi của Lò Văn C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
… c) Heroine, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 01 gam đến dưới 05 gam;”.
. Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hành chính, chưa bị Toà án nào xét xử.
. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cho bị cáo có thời gian cai nghiện để trở thành công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo sống với bố mẹ, không có tài sản gì có giá trị và bị cáo đi chấp hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.
. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,17gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định, sau giám định hoàn lại 0,05 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu hồng.
. Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch. Việc mua bán ma tuý chỉ mình bị cáo biết, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra. Do vậy HĐXX không xem xét xử lý.
. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Năm 2024-2025 gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo theo Giấy chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo số 46/GCN-HN.HCN ngày 11/12/2023, Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống cư trú tại Bản Phiêng Muông B, xã Phình Giàng, tỉnh Điện Biên, thuộc bản đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo xin HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lò Văn C 03 (Ba) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (09/9/2025).
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy gồm: Tịch thu tiêu hủy: 0,17gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định, sau giám định hoàn lại 0,05 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu hồng đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Điện Biên).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/02/2026)./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- VKSND Khu vực 2 - Điện Biện;
- Công an tỉnh ĐB (PC04, PV06);
- Cơ quan THAHS tỉnh Điện Biên;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Phân trại Trại tạm giam Mường Thanh;
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP.
Trần Thị Thương Huyền
THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Thị Thương Huyền
. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND HĐB;
- VKSND tỉnh ĐB;
- Cơ quan điều tra Công an HĐB;
- Cơ quan THAHS HĐB;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Trại tạm giam;
- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
- Chi cục THADS HĐB;
Trần Thị Thương Huyền
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Thị Thương Huyền Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSNDTPĐBP;
- VKSND tỉnh ĐB;
- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP
- Cơ quan THAHS TP ĐBP;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Trại tạm giam;
- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
- Chi cục THADS TP ĐBP;
Trần Thị Thương Huyền
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSNDTPĐBP;
- VKSND tỉnh ĐB;
- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP
- Cơ quan THAHS TP ĐBP;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Trại tạm giam;
- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
Trần Thị Thương Huyền
- Chi cục THADS TP ĐBP;
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Thị Thương Huyền
| Nơi nhận: -Bị cáo; - VKSNDTPĐBP; - VKSND tỉnh ĐB; - Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP - Cơ quan THAHS TP ĐBP; - TAND tỉnh Điện Biên; - Trại tạm giam; - Sở Tư pháp tỉnh ĐB; - Chi cục THADS TP ĐBP; - HS THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thương Huyền |