- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Đ - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – PHÚ THỌ Bản án số: 31/2026/HS-ST Ngày: 22-7-2026 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Lan và ông Trần Văn Truyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cao – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16
- Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 31/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:
Bùi Văn Đ, sinh ngày 22 tháng 7 năm 1985, tại: Xã M, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Xóm P (trước ngày 01/7/2026 là xóm L), xã M, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Chí T, sinh năm 1950 và bà Bùi Thị Ư, sinh năm 1956; bị cáo có vợ là Bùi Thị T1, sinh năm 1988 và có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 04/01/2024 Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 05/2024/HS-ST (chấp hành xong ngày 22/12/2024, chưa được xóa án tích).
Tiền sự: Không có.
Nhân thân:
- Ngày 06/02/2017, Công an huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc tại Quyết định số 23 (đã nộp xong tiền phạt ngày 26/4/2017);
- Năm 2024, bị cáo bị xử lý kỷ luật Đảng: Bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng;
- Sau khi thực hiện hành vi phạm tội lần này, ngày 27/5/2026, Công an xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền 1.250.000 đồng tại Quyết định số 21/QĐ-XPHC (đã nộp xong tiền phạt ngày 27/5/2026);
Bị cáo khai có sử dụng, nghiện chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/3/2026, chuyển tạm giam từ ngày 12/3/2026 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Bùi Chí T, sinh năm 1950, nghề nghiệp: Lao động tự do, nơi cư trú: Xóm P (trước ngày 01/7/2026 là xóm L), xã M, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 03/3/2026, Bùi Văn Đ, sinh năm 1985; nơi cư trú: Xóm L (nay là xóm P), xã M, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28E1-153.xx đi từ nhà mình đến khu vực xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ tìm mua cây Lụa để chữa bệnh nhưng không mua được. Quá trình đi tìm mua cây, Đ có gặp một người đàn ông không quen biết, qua hỏi chuyện biết người đàn ông này có bán ma túy nên Đ đã đưa cho người đàn ông trên số tiền 600.000 đồng để mua ma túy. Nhận được tiền người đàn ông đi một lúc rồi quay lại và đưa cho Đ 01 gói nhỏ, bên trong có chứa ma túy. Mua được ma túy, Đ mở cốp xe mô tô và cất giấu ma túy ở mặt dưới yên xe mô tô.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Cụm 10 Trạm Cảnh sát giao thông Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ và Tổ Cảnh sát Phòng chống tội phạm Công an xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ phối hợp tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ tại Km135 thuộc địa phận xóm Vắt (nay là xóm Đồng Tâm), xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ, thì phát hiện Bùi Văn Đ đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28E1-153.xx đi theo hướng Sơn La – Hà Nội có biểu hiện nghi vấn về ma túy, Tổ công tác đã ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Qua test nhanh chất ma túy bằng nước tiểu đối với Bùi Văn Đ xác định: Đông dương tính với chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm sau đó đưa Bùi Văn Đ cùng phương tiện về trụ sở Cụm 10 Trạm Cảnh sát giao thông Tân Lạc thuộc Tiểu khu 2 (nay là xóm Mai Thượng), xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra phương tiện đối với xe mô tô biển kiểm soát 28E1-153.xx, khi mở cốp xe phát hiện tại vị trí mặt dưới yên xe mô tô có 01 gói nhỏ, bên trong có 02 gói, trong đó: 01 gói chứa 06 viên màu hồng, 01 gói chứa cục chất bột màu trắng nghi là ma túy. Bùi Văn Đ khai nhận đó là các gói ma túy của Đ tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Văn Đ thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Bùi Văn Đ còn khai nhận vào ngày 01/3/2026, tại khu vực xã Mường Bi, tỉnh Phú Thọ, Đ đã mua được 01 gói ma túy gồm Heroine và ma túy tổng hợp với số tiền 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Đ đã sử dụng hết cho bản thân. Việc Đ sử dụng ma túy không ai biết, không ai liên quan.
Tại Kết luận giám định số: 1310/KL-KTTS ngày 10/3/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
- Các viên nén màu hồng (ký hiệu M1) trong phong bì niêm phong một mặt ghi “Vật chứng thu giữ của Bùi Văn Đ, sinh năm 1985, trú tại xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 03/3/2026 tại KM 135 QL6 thuộc địa phận xóm Vắt, xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ” có tổng khối lượng 0,604 gam (Không phẩy sáu không bốn gam), là ma túy, loại Methamphetamine.
- Các cục chất bột màu trắng (ký hiệu M2) trong phong bì niêm phong một mặt ghi “Vật chứng thu giữ của Bùi Văn Đ, sinh năm 1985, trú tại xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 03/3/2026 tại KM 135 QL6 thuộc địa phận xóm Vắt, xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ” có khối lượng 0,900 gam (Không phẩy chín không không gam), là ma túy, loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKSPTO-KV16 ngày 15 tháng 6 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ truy tố Bùi Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn Đông từ 44 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/3/2026.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng, nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.
Về vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông mà Bùi Văn Đ khai đã bán ma tuý cho Đ, kết quả điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này, không xác định được là ai nên không có căn cứ đề nghị xử lý.
- Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Bùi Văn Đ vào ngày 01/3/2026, tại khu vực xã Mường Bi, tỉnh Phú Thọ do Đ đã mua được 01 gói ma túy gồm Heroine và ma túy tổng hợp với số tiền 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Đ đã sử dụng hết cho bản thân, việc Đ sử dụng ma túy không ai biết, không ai liên quan, không xác định được khối lượng ma túy nên không có căn cứ đề nghị xử lý.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Văn Đ. Căn cứ kết quả xác minh, xác định Bùi Văn Đ không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 256a của Bộ luật Hình sự. Do đó, ngày 27/5/2026 Công an xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 21/QĐ-XPHC đối với Bùi Văn Đ bằng hình thức phạt tiền là 1.250.000 đồng là có căn cứ, đúng theo quy định pháp luật. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
- Đối với việc thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 28E1-153.xx nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen đỏ, xe cũ đã qua sử dụng. Kết quả điều tra xác định, xe mô tô trên thuộc sở hữu hợp pháp của ông Bùi Chí T, sinh năm 1950; nơi cư trú: Xóm L (nay là xóm P), xã M, tỉnh Phú Thọ (là bố đẻ của Bùi Văn Đ). Việc bị cáo Đ sử dụng xe mô tô đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy ông T không biết và không liên quan. Xét thấy việc trả lại chiếc xe mô tô không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên ngày 06/5/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe mô tô cho ông Bùi Chí T là đúng theo quy định của pháp luật. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, do nghiện ma túy nên bị cáo đã đi mua và tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ông Bùi Chí T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã có bản khai trong hồ sơ tóm tắt như sau: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28E1-153.xx nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen đỏ, xe cũ đã qua sử dụng là của ông Bùi Chí T, ngày 03/3/2026 Bùi Văn Đ có hỏi mượn để đi mua cây Lụa. Sau đó đi đâu làm gì ông Bùi Chí T không biết; ông Bùi Chí T không liên quan đến hành vi phạm tội của Bùi Văn Đ. Nay đã nhận lại xe, không có ý kiến yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Bùi Văn Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Ngày 03/3/2026, tại địa phận xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ, Bùi Văn Đ đã mua được 01 gói ma túy với một người đàn ông không quen biết với số tiền 600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Đ đã cất giấu tại mặt dưới yên xe mô tô biển kiểm soát 28E1-153.xx. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đông điều khiển xe mô tô về đến địa phận xóm Vắt (nay là xóm Đồng Tâm), xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ thì bị Tổ công tác Cụm 10 Trạm Cảnh sát giao thông Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ và Tổ Cảnh sát Phòng chống tội phạm Công an xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ phối hợp kiểm tra, phát hiện Bùi Văn Đ dương tính với ma túy. Tiến hành kiểm tra xe mô tô biển kiểm soát 28E1-153.xx, Tổ công tác phát hiện và thu giữ được 0,604 gam ma túy, loại Methamphetamine và 0,900 gam ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng 02 chất ma túy mà Bùi Văn Đ tàng trữ là 1,504 gam. Kết quả điều tra xác định, số ma túy bị thu giữ trên là của Bùi Văn Đ tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích khác.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Chứng cứ xác định không có tội: Không có.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp phòng, chống tiến tới loại trừ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đã từng bị xử lý kỷ luật Đảng bằng hình thức khai trừ nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội tàng trữ với 02 chất ma túy có tổng khối lượng 1,504 gam để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Văn Đ có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý chưa được xóa án tích nên lần này bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, khối lượng 02 chất ma túy mà bị cáo tàng trữ là 1,504 gam, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, tiền án, tiền sự, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nêu trên. Xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Bùi Văn Đ phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 46 (bốn mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 04/3/2026.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine và Heroine sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, được niêm phong trong 01 phong bì.
(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16, tỉnh Phú Thọ, tình trạng, đặc điểm cụ thể của vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 41/KV16 ngày 30/6/2026 giữa bên giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, bên nhận Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16, tỉnh Phú Thọ).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Bùi Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo cùng thời hạn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh PT; - VKSND khu vực 16 – Phú Thọ; - Trại tạm giam số 3 - CA tỉnh Phú Thọ; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan điều tra; - Phòng THADS khu vực 16 – Phú Thọ; - Hồ sơ THAHS; - UBND, Công an xã Mường Bi, tỉnh Phú Thọ; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Phạm Thanh Tùng |