vanban.org

Bản án 31/2026/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 29/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc T phạm t i “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Quốc T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quốc Thư - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc T phạm t i “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2026/HS-ST
Ngày 29-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Huy;

Ông Trần Sinh Tụ.

- T ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 1 - TN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - TN tham gia phiên tòa: Ông Lê Huỳnh Việt Long - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân dân khu vực 1 - TN xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 211/2026/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Bùi Quốc T, sinh 1972 tại xã TC, tỉnh TN; tên gọi khác: Không; nơi cư trú và chỗ ở: Xóm TĐ, xã TC, tỉnh TN; quốc tịch: Việt Nam; dân t c: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; trình đ văn hóa: 7/10; Nghề nghiệp: Lao đ ng tự do; con ông Bùi Quốc T (đã chết) và bà Phạm Thị N, sinh năm 1936; gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; vợ là bà Dương Tố L, sinh năm 1973, có 01 con, sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại bản án số 240/2000/HSST ngày 17/10/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh TN xử phạt 03 năm tù về t i “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 B luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2002. N p án ph , tiền phạt ngày 11/6/2013.

+ Tại bản án số 17/2010/HSST ngày 11/3/2010 của Tòa án nhân huyện Đồng Hỷ, tỉnh TN xử phạt 36 tháng tù về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 B luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2012. N p án ph ngày 26/5/2010.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh TN (có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 45 phút ngày 16/10/2025, Công an xã TC, tỉnh TN mời Bùi Quốc T (là đối tượng nghiện chất ma túy đang điều trị cai nghiện ma túy bằng hình thức uống thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone số 2 phường Quan Triều) đến trụ sở để làm việc. Quá trình làm việc với Công an xã TC, tỉnh TN Bùi Quốc T tự khai nhận ngày 16/10/2025 đã sử dụng ma túy, loại Heroine và Hồng phiến, bằng hình thức chích trực tiếp vào cơ thể tại phường Quan Triều, tỉnh TN. Công an xã TC đã phối hợp với Trạm y tế Thịnh Đức, xã TC tiến hành kiểm tra chất ma túy trong cơ thể của Bùi Quốc T bằng phương pháp tiến hành cắm que test gồm 06 chân thử MDMA, KET, THC, MET, AMP, OPI vào mẫu nước tiểu. Kết quả kiểm tra: Bùi Quốc T dương t nh với ma túy Heroine và ma túy Hồng phiến. Công an xã TC, tỉnh TN lập biên bản sự việc và thu mẫu nước tiểu của T (niêm phong ký hiệu T1) để gửi giám định theo quy định

Hồi 20 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh TN đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Quốc T tại xóm TĐ, xã TC, tỉnh TN, kết quả: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản Kết luận giám định số 541/KL-KTHS ngày 25/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Bùi Quốc T gửi giám định.

Tại phiếu theo dõi điều trị bằng thuốc Methadone của Cơ sở điều trị Methadone số 2 phường Quan Triều, tỉnh TN xác định từ ngày 01/10/2025 đến ngày 16/10/2025, Bùi Quốc T thu c diện được cấp phát thuốc Methadone hàng ngày tại cơ sở điều trị trên.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Quốc T khai nhận: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2009 đến năm 2017, T đi uống thuốc điều trị cai nghiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone Túc Duyên

- TN nay là Cơ sở điều trị Methadone số 2 phường Quan Triều nhưng chưa cai bỏ được. Sáng ngày 16/10/2025, sau khi uống thuốc tại Cơ sở điều trị Methadone số 2 phường Quan Triều, T được 01 người đàn ông không quen biết cùng nghiện ma túy đưa cho m t ít ma túy Hồng phiến và ma túy Heroine để sử dụng. Sau đó, T đi lòng vòng trong các ngõ tại phường Quan Triều để tìm nơi sử dụng ma túy, T sử dụng ma túy bằng hình thức chích trực tiếp vào cơ thể. Đến 14 giờ 45 phút ngày 16/10/2025, Công an xã TC, tỉnh TN phối hợp với Trạm y tế Thịnh Đức, xã TC mời T đến trụ sở Công an xã TC để tiến hành kiểm tra chất ma túy trong cơ thể bằng phương pháp tiến hành cắm que test gồm 06 chân thử MDMA, KET, THC, MET, AMP, OPI vào mẫu nước tiểu. Kết quả kiểm tra T dương t nh với chất ma túy Heroine và ma túy Hồng phiến. T công nhận kết quả này là đúng và không có thắc mắc gì khác. Sau đó, Công an xã TC đã tiến hành lập biên bản sự việc theo quy định.

Lời khai nhận của bị cáo Bùi Quốc T phù hợp với biên bản sự việc, bệnh án điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone, phiếu xét nghiệm nước tiểu, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: 01 (M t) chiếc xilanh không rõ đặc điểm, nguồn gốc. Theo Bùi Quốc T khai nhận sử dụng chiếc xilanh trên làm công cụ để sử dụng trái phép chất ma túy sau đó vứt đi tại khu vực ngõ dân sinh trên địa bàn phường Quan Triều, tỉnh TN; hiện không thu hồi được.

Tại bản Cáo trạng số 111/CT-VKS-KV1 ngày 29/12/2025, Viện Kiểm sát nhân khu vực 1 - TN đã truy tố Bùi Quốc T về t i “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256a B luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung m t số điều tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - TN trình bày lời luận t i, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị H i đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Quốc T về t i “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1, Điều 51 B luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung m t số điều tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025), xử phạt Bùi Quốc T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: 01 (M t) chiếc xilanh không rõ đặc điểm, do Bùi Quốc T sử dụng chiếc xilanh trên làm công cụ để sử dụng trái phép chất ma túy sau đó vứt đi tại khu vực ngõ dân sinh trên địa bàn phường Quan Triều, tỉnh TN, hiện không thu hồi được nên không đề nghị xem xét.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 136 B luật tố tụng hình sự, bu c bị cáo phải n p 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nhất trí với n i dung luận t i của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Nói lời sau cùng: Xin H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh TN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - TN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình, lời khai nhận t i của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra biên bản bắt người phạm t i quả tang, vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ căn cứ để xác định: Sáng ngày 19/10/2025, tại phường Quan Triều, tỉnh TN, Bùi Quốc T (là đối tượng nghiện chất ma túy đang điều trị cai nghiện ma túy bằng hình thức uống thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone số 2 phường Quan Triều, tỉnh TN) có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroine và Hồng phiến bằng hình thức chích trực tiếp vào cơ thể. Đến 14 giờ 45 phút ngày 16/10/2025, T bị Công an xã TC, tỉnh TN tiến hành kiểm tra, test nhanh kết quả T “dương t nh” với ma túy Heroine và Methamphetamine.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - TN đã truy tố bị cáo Bùi Quốc T về t i “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a B luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung m t số điều tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. N i dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 02 đến 03 năm:

a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

Hành vi phạm t i của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, xâm phạm đến ch nh sách đ c quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, là m t trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã h i khác như: Tr m cắp tài sản, cướp tài sản, giết người... Bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn cố tình sử dụng ma túy khi biết mình đang trong thời hạn điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone. Việc đưa Bùi Quốc T ra truy tố và xét xử là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa t i phạm chung cho xã h i.

Khi lượng hình, H i đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nhân thân rất xấu: các năm 2000 và 2010, bị xét xử về các t i mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, mà đã cố tình thực hiện hành vi phạm t i, điều đó thể hiện ý thức coi Tờng pháp luật của bị cáo nên cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm t i của bị cáo, bu c cách ly xã h i m t thời gian để giúp bị cáo tự cải tạo, giáo dục mình thành người có ích cho xã h i.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái đ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 B luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên H i đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai được người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, lai lịch tại Cơ sở điều trị Methadone số 2, phường Quan Triều, tỉnh TN cùng nghiện ma tuý đưa cho để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh TN không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Vật chứng vụ án: 01 (M t) chiếc xilanh không rõ đặc điểm, do Bùi Quốc T sử dụng chiếc xilanh trên làm công cụ để sử dụng trái phép chất ma túy sau đó vứt đi tại khu vực ngõ dân sinh trên địa bàn phường Quan Triều, tỉnh TN, hiện không thu hồi được nên không xem xét.

Bị cáo phải n p án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung m t số điều tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025); Điều 106; Điều 136; Điều 299, Điều 329; Điều 331 và Điều 333 B luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc T phạm t i “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt: Bị cáo Bùi Quốc T 30 (ba mươi) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi năm ngày) để đảm bảo thi hành án.

2. Về án phí: Bu c bị cáo Bùi Quốc T phải n p 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ