vanban.org

Bản án 31/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị H. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị H và anh Trần Minh M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 31/2026/HNGĐ-ST
Ngày 09-02-2026
“V/v Ly hôn giữa chị H và anh M”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lành và ông Phạm Đức Hoài.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7- An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- An Giang tham gia phiên tòa: Ông Danh Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7-An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2026/QĐST-HNGĐ ngày 28/01/2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thúy H, sinh năm 2000

Địa chỉ: Tổ 7, ấp H, xã T, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Trần Minh M, sinh năm 1999

Địa chỉ: Ấp X, xã T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Võ Thúy H trình bày nhƣ sau:

Chị Võ Thúy H (gọi tắt là chị H) và anh Trần Minh M (gọi tắt là anh M) chung sống với nhau vào năm 2022, hôn nhân tự nguyện có tổ chức đám cưới và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vào ngày 20/11/2023 theo quy định.

Sau khi kết hôn chị H và anh Msống cùng gia đình chồng, anh M không tu chí làm ăn mà tham gia vào bài bạc, tiền bạc làm ra đều sử dụng để chơi bài bạc, đồng thời giữa con dâu và cha mẹ chồng cũng xảy ra xíc mích từ việc mẹ chồng mượn số vàng cưới của con dâu, bản thân anh M nghe theo lời của cha mẹ không có sự can thiệp để bảo vệ vợ con. Khi con còn nhỏ nhưng không thể sống được bên gia đình chồng chị H phải mang con về nhà cha mẹ ruột để sống từ tháng 9 năm 2024 và cũng từ đó tới nay anh M không còn tới lui quan tâm tới vợ con. Hiện nay vợ chồng không còn tình cảm, mỗi người đều có cuộc sống riêng, mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên chị H đề nghị Toà án giải quyết cho xin ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có một người con chung tên Trần Võ Minh Đ, sinh ngày 15/6/2023 hiện đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết

Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn anh Trần Minh M vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến trƣớc yêu cầu xin ly hôn của chị Hằng.

Thu thập chứng cứ: Nguyên đơn cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính), giấy căn cước (sao); giấy khai sinh của con chung. Bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị H được ly hôn với anh M, về con chung giao cháu Trần Võ Minh Đ cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chị H không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn xã Tân Thạnh, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang.

Quan hệ pháp luật: Chị H yêu cầu ly hôn với anh M và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bị đơn đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Chị H và anh M chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hằng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Qua lời trình bày của chị H và xác minh tại địa phương xác định được như sau: Trong thời gian chung sống anh M không lo tu chí làm ăn để xây dựng kinh tế gia đình mà tham gia cờ bạc dẫn đến nợ nần, không có sự can thiệp cần thiết để bảo vệ vợ con khi xảy ra mâu thuẫn xích mích giữa cha mẹ chồng với chị H, trong thời gian chung sống vợ chồng không có hạnh phúc. Từ khi chị H mang con về nhà cha mẹ ruột sống vào tháng 9 năm 2024 cho đến nay thì anh, chị không còn quan tâm tới cuộc sống của nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án anh chị đều không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị H, giải quyết cho ly hôn giữa chị H và anh M.

Về con chung: Chị H và anh M có một người con chung tên Trần Võ Minh Đ, sinh ngày 15/6/2023 hiện nay đang sống với chị H. Xét thấy, từ khi anh chị ly thân con chung sống với chị H có cuộc sống ổn định hiện tại con chung còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi và chị H cũng có thu nhập bảo đảm việc nuôi dưỡng con chung do đó Hội đồng xét xử thống nhất tiếp tục giao cháu Trần Võ Minh Đ cho chị H nuôi dưỡng sau khi anh chị ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị H không yêu cầu anh Mẩn cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung của vợ chồng: Chị H xác định không có, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung của vợ chồng: Chị H xác định không có, không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị H là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị H.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị H và anh Trần Minh M.

2. Về con chung: Giao con chung cháu Trần Võ Minh Đ, sinh ngày 15/6/2023 cho chị Võ Thuý H nuôi dưỡng sau khi chị Võ Thuý H và anh Trần Minh M ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị Võ Thuý H không yêu cầu anh Trần Minh M cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Võ Thuý H xác định không có tài sản chung, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị Võ Thuý H xác định không có, không ai có yêu cầu nên không xem xét.

5. Về án phí: Chị Võ Thị H có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0009710 ngày 24/11/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 7- An Giang. Chị Võ Thị H đã nộp đủ án phí.

6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/02/2026). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ