vanban.org

Bản án 31/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn ông Trịnh Q H. Về con chung: Giao con chung tên là Trịnh Lê Bảo C sinh ngày cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 (Mười tám) tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26-02-2026
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà C Nguyễn Xuân Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Mến

2. Ông Nguyễn Ngọc Khanh

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 26 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 491/2025/TLST-HNGĐ ngày 18/11/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/01/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh . Địa chỉ: Tổ 13 ấp T, xã B, thành phố Hồ Chí Minh, (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trịnh Q H, sinh ngày Địa chỉ: Tổ 1, ấp T, xã B, thành phố Hồ Chí Minh, (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Bà T và ông H chung sống năm 2019, đăng ký kết hôn lại tại UBND xã Bình C vào năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên là Trịnh Lê Bảo C sinh ngày. Trong cuộc sống thì vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Đến tháng 07/2025, vợ chồng đã ly thân, không ai còn quan tâm đến ai. Nguyên nhân mâu thuẫn là do sống không hợp nhau, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn không thể giải quyết được. Nay bà T nhận thấy không còn tình cảm gì với ông H nữa nên xin được ly hôn.

- Về con chung: Có 01 con chung tên là Trịnh Lê Bảo C sinh ngày . Con đang sống cùng bà T, bà T yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về ý kiến của bị đơn ông Trịnh Q H: Trong quá trình tố tụng ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì.

Theo kết quả xác minh, ông Trịnh Q H hiện nay đang cư trú tại tổ 1 ấp Thèo Nèo, xã Bình C, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, bị đơn cư trú tại xã Bình C, thành phố Hồ Chí Minh, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trịnh Q H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thấy: Trong cuộc sống vợ chồng của bà T và ông H có mâu thuẫn, có gây gỗ. Mâu thuẫn giữa bà T và ông H là có thật, vợ chồng sống không hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Xét thấy, cuộc sống chung giữa bà T và ông H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

+ Về con chung: Bà T và ông H có 01 con chung tên là Trịnh Lê Bảo C sinh ngày 10/8/2019. Xét thấy con chung đang sống cùng bà T. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn ông Trịnh Q H.

- Về con chung: Giao con chung tên là Trịnh Lê Bảo C sinh ngày cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 (Mười tám) tuổi.

Ông Trịnh Q H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Trịnh Q H được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Bà T tự thỏa thuận, nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Bà T khai không có, nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Án phí: Bà Lê Thị T phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0038610 ngày 17/11/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, bà T đã nộp đủ.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/02/2026), đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ