vanban.org

Bản án 31/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái N.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái N có hai con chung tên Nguyễn Thị Diễm T1, sinh ngày 09-10-2004 và Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 28-8-2017. Cháu Nguyễn Thị Diễm T1 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống được bản thân nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giao anh Nguyễn Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T- Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11-TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 06-02-2026
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Xuân Cúc;

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11-Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11-Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại Phụng – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11-Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2025/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 24-4-1986; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; ngày cấp: 19-8-2022; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; cư trú tại: Tổ A, ấp H, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thái N, sinh ngày 26-3-1979; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; cư trú tại: Tổ A, ấp H, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 8 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị T và anh Nguyễn Thái N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là UBND xã T, tỉnh Tây Ninh) vào năm 2008. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, khoảng một năm nay phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Anh N đi làm xa, ít về nhà nên tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn quan tâm nhau. Do không thể tiếp tục chung sống nên nay chị yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị T và anh N có hai con chung tên Nguyễn Thị Diễm T1, sinh ngày 09-10-2004 và Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 28-8-2017. Cháu Nguyễn Thị Diễm T1 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống được bản thân nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Thúy A có nguyện vọng muốn sống cùng ai thì chị đồng ý theo nguyện vọng của cháu.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Thái N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt.

Anh Nguyễn Thái N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Thái N.

+ Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Diễm T1, sinh ngày 09-10-2004 đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết. Giao cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 28-8-2017 cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị T và anh N tự thỏa thuận.

+ Tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết

+ Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Thái N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh N.

Về hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là UBND xã T, tỉnh Tây Ninh) vào năm 2008. Căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T, thấy rằng: Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nếu có phản đối yêu cầu của người khác đối với mình thì phải thể hiện bằng văn bản và cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó. Chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn, anh Nguyễn Thái N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T do đó thể hiện anh N không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình xác minh tại địa phương thể hiện chị T và anh N chung sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh N ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Thái N.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái N có hai con chung tên Nguyễn Thị Diễm T1, sinh ngày 09-10-2004 và Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 28-8-2017. Cháu Nguyễn Thị Diễm T1 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống được bản thân nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Nguyễn Thị Thúy A có nguyện vọng được chung sống cùng anh N và hiện nay cháu vẫn đang sống cùng nhà với anh N nên Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Thúy A cho anh N nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái N.

2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái N có hai con chung tên Nguyễn Thị Diễm T1, sinh ngày 09-10-2004 và Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 28-8-2017. Cháu Nguyễn Thị Diễm T1 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống được bản thân nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giao anh Nguyễn Thái N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 28-8-2017. Chị Nguyễn Thị T không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005240 ngày 01 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh T; chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ