- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyeân boá: Bị cáo Trần Lê Phong T phạm tội: “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 4 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH L ĐỒNG Bản án số: 31/2025/HSST Ngày 14/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - L ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Thúy Thành
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Sáu
bà Nguyễn Thị Tài
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thùy Lương – Thư ký Tòa án nhân dân
Khu vực 4 - L Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - L Đồng tham gia phiên tòa:
bà Trần Thu Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo L cũ xét xử sơ thẩm công khai, lưu động theo thủ tục thông thường vụ án hình sự thụ lý số 61/2025/HSST ngày 30/6/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXTS-HS ngày 22/7/2025 và thông báo thay đổi thời gian xét xử số 02/TB-TA ngày 4/8/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Lê Phong T; sinh năm 1995 tại L Đồng;
NKTT: tổ dân phố 3, xã Đạ Huoai, tỉnh L Đồng;
Chỗ ở: Thọ L 1, xã Tân P, tỉnh Đồng Nai
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam;
Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 11/12;
Con ông Trần Phi V, sinh năm 1961; Con bà Lê Thị Ngọc Trí, sinh năm 1963. Hiện trú tại xã Tân P, tỉnh Đồng Nai; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Vợ: Cao Thị Thanh Tuyền, sinh năm 1993. Hiện trú tại xã Tân P, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 10/2/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
( Có mặt tại phiên tòa ).
+ Bị hại: anh K’N, sinh năm 2001 (chết)
Địa chỉ: thôn 14, xã Hòa Bắc, tỉnh L Đồng
Đại diện hợp pháp của người bị hại: ông K’Nảo, sinh năm 1979 và bà Ka Thổi, sinh năm 1982. Có mặt
Địa chỉ: thôn 14, xã Hòa Bắc, tỉnh L Đồng
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Công ty TNHH Vận tải hàng hóa Phạm Quốc Tuấn
Địa chỉ: số 380 đường Hùng Vương, xã Đạ Huoai, tỉnh L Đồng
Người đại diện theo ủy quyền: ông Huỳnh Hữu Thế Tôn, sinh năm 1986
Địa chỉ: tổ dân phố 3, xã Đạ Huoai, tỉnh L Đồng. Có đơn đề nghị vắng mặt
2. Bà Phạm Thùy Dương, sinh năm 1984. Có mặt
Địa chỉ: thôn P Bình, xã Đạ Tẻh, tỉnh L Đồng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Lê Phong T đã có giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 15/01/2024. Chiều ngày 09/02/2025, T điều khiển xe ô tô tải hiệu HINO biển số 49H-02436 lưu thông trên Quốc lộ 20 theo hướng huyện Di Linh đi thành phố Bảo Lộc, tỉnh L Đồng. Khoảng 16 giờ 49 Pt cùng ngày, khi đến đoạn đường nơi giao nhau với đường không ưu tiên thuộc thôn 4, xã Lộc An, huyện Bảo L, tỉnh L Đồng, T điều khiển xe ô tô biển số 49H-02436 đi sang phần đường bên trái để vượt các xe ô tô cùng chiều phía trước. Cùng lúc này, xe mô tô biển số 49K1-095.18 do anh K’N, sinh năm 2001; HKTT: thôn 14, xã Hòa Bắc, huyện Di Linh, tỉnh L Đồng điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 49M1-12283 do chị Phạm Thùy Dương, sinh năm 1984; địa chỉ: xã Đạ Lây, huyện Đạ Huoai, tỉnh L Đồng điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước với xe mô tô của anh K’N. Sau va chạm anh K’N và xe mô tô biển số 49K1-09518 trượt ngã xuống mặt đường thì tiếp tục va chạm với xe ôtô biển số 49H-024.36 do Trần Lê Phong T điều khiển đi đến. Hậu quả: Anh K’N chết trên đường đi cấp cứu.
Hiện trường vụ tai nạn được xác định là đoạn đường Quốc lộ 20 thuộc thôn 4, xã Lộc An, huyện Bảo L, tỉnh L Đồng: đường được trải nhựa bê tông tương đối bằng phẳng, mặt đường rộng 11,1m, áp dụng cho hai chiều phương tiện lưu thông qua lại, được phân cách bằng vách sơn nét đứt và vạch sơn nét liền song song màu vàng rộng 0,15m. Phần đường bên phải theo hướng thành phố Bảo Lộc đi huyện Di Linh rộng 5,23m, được chia thành hai làn đường và được phân cách bằng vạch sơn nét liền rộng 0,2m, làn đường sát với lề đường rộng 1,9m, áp dụng cho phương tiện xe thô sơ lưu thông; làn đường sát với tim đường rộng 3,13m, áp dụng cho xe cơ giới lưu thông. Phần đường bên trái rộng 5,42m, hai bên đường là phần vỉa hè rộng 5,1m. Tại đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là giao lộ ngã tư giữa đường Quốc lộ 20 (là đường ưu tiên) với đường không ưu tiên, gồm: tại vị trí giao nhau đi về phía bên phải là đường vào khu dân cư thôn 4, xã Lộc An (là đường không ưu tiên), ngay vị trí điểm đầu giao nhau rộng 12,2m, đoạn đường phía trong rộng 6,7m; tại vị trí giao nhau đi về phía bên trái là đường vào khu dân cư thôn 5, xã Lộc An (là đường không ưu tiên), ngay vị trí điểm đầu giao nhau rộng 15m, đoạn đường phía trong rộng 08m. Theo hướng thành phố Bảo Lộc đi huyện Di Linh, tại phần vỉa hè bên phải đường trước giao lộ có biển báo 207a (biển báo giao nhau với đường không ưu tiên), tại phần vỉa hè bên trái đường sau giao lộ có biển báo 207a (biển báo giao nhau với đường không ưu tiên). Chọn hướng khám nghiệm hiện trường theo hướng từ thành phố Bảo Lộc đi huyện Di Linh làm mép chuẩn để đo đến vị trí phương tiện và dấu vết.
+ Số 01 là vị trí xe ôtô tải biển số 49H-024.36 dừng sau tai nạn: xe ôtô dừng ở phần đường bên trái theo hướng khám nghiệm. Đầu trục bánh trước bên trái cách mép chuẩn 6,05m, cách mốc 13,8m. Đầu trục bánh trước bên phải cách mép chuẩn 8,45m. Tâm đầu trục bánh sau bên trái cách mép chuẩn 5,7m. Tâm đầu trục bánh sau bên phải cách mép chuẩn 8m.
+ Số 02 là vị trí vết cày do xe môtô biển số 49K1-095.18 để lại trên mặt đường nhựa: có chiều hướng hình thành theo hướng khám nghiệm, dài 18,8m, điểm đầu vết cày cách mép chuẩn 2,58m, cách đầu trục bánh sau bên trái xe ô tô biển số 49H-024.36 (số 01) 3,1m, điểm cuối vết cày cách mép chuẩn 2,9m.
+ Số 03 là vị trí vết trượt bám dính cao su thứ nhất (vết phanh) do xe ôtô biển số 49H-024.36 để lại trên mặt đường nhựa: có chiều hướng hình thành ngược hướng khám nghiệm, dài 8,9m, điểm đầu dấu vết cách mép chuẩn 4,1m, điểm cuối dấu vết cách mép chuẩn 3,4m và cách điểm đầu vết cày (số 02) 0,65m.
+ Số 04 là vị trí vết trượt bám dính cao su thứ hai (vết phanh) do xe ôtô biển số 49H-024.36 để lại trên mặt đường nhựa: có chiều hướng hình thành ngược hướng khám nghiệm, dài 10,6m, điểm đầu dấu vết cách mép chuẩn 6,1m, điểm cuối dấu vết cách mép chuẩn 5,4m và cách điểm cuối vết trượt (số 03) 3,1m.
+ Số 05 là vị trí xe môtô biển số 49K1-095.18 bị ngã sau khi xảy ra tai nạn giao thông: xe ngã nghiêng bên trái. Đầu trục bánh sau cách mép chuẩn 1,1m. Đầu trục bánh trước cách mép chuẩn 1,5m và cách điểm cuối vết trượt (số 04) 5,25m.
+ Số 06 là vị trí xe môtô biển số 49M1-122.83 bị ngã sau khi xảy ra tai nạn: xe ngã nghiêng bên trái. Đầu trục bánh cách mép chuẩn 0,05m và cách đầu trục bánh trước xe môtô 49K1-095.18 (số 05) 1,7m. Đầu trục bánh trước cách mép chuẩn 0,13m.
Tại Bản kết luận số 32/KLGĐTT-PC09 ngày 10/02/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L Đồng kết luận: K' N, sinh 2001; địa chỉ: thôn 14, xã Hòa Bắc, huyện Di Linh chết do đa chấn thương.
Tại Bản kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 25/02/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L Đồng kết luận:
+ Dấu vết va chạm: Dấu vết trượt xước kèm bám dính chất màu đỏ - trắng tại cạnh sau cùng ống xả khí thải xe mô tô biển số 49K1-095.18 phù hợp với dấu vết trượt xướt ốp đèn báo phanh - chuyển hướng phía sau và cạnh trên ốp nhựa thân xe phía sau xe mô tô biển số 49M1-122.83. Tổ hợp dấu vết bên phải tay lái và cong vênh kim loại phía trước đầu xe - gãy rời cổ tay lái của xe mô tô biển số 49K1-095.18 phù hợp với tổ hợp dấu vết khuyết 1/4 ốp cản - cong vênh giá cố định ốp cản và đèn gầm phía trước bên trái xe ô tô biển số 49H-024.36.
+ Tc độ: Không đủ cơ sở kết luận Tc độ của xe mô tô biển số 49K1-095.18, xe mô tô biển số 49M1-122.83 và xe ô tô biển số 49H-024.36 ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông.
+ Chiều hướng lưu thông: Xe mô tô biển số 49K1-095.18 lưu thông trên đường Quốc lộ 20 theo hướng thành phố Bảo Lộc về hướng huyện Di Linh, tỉnh L Đồng. Xe mô tô biển số 49M1-122.83 lưu thông trên đường Quốc lộ 20 theo hướng thành phố Bảo Lộc về hướng huyện Di Linh, tỉnh L Đồng. Xe ô tô biển số 49H-024.36 lưu thông trên đường Quốc lộ 20 theo hướng hướng huyện Di Linh về thành phố Bảo Lộc, tỉnh L Đồng.
+ Vùng va chạm: Vùng va chạm đầu tiên chiếu trên mặt đường vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông giữa xe mô tô biển số 49M1-122.83 với xe mô tô biển số 49K1-095.18 thuộc phần đường dành cho phương tiện lưu thông theo hướng thành phố Bảo Lộc về hướng huyện Di Linh, tỉnh L Đồng. Vùng va chạm đầu tiên chiếu trên mặt đường vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông giữa xe ô tô biển số 49H-024.36 với xe mô tô biển số 49K1-095.18 thuộc phần đường dành cho phương tiện lưu thông theo hướng thành phố Bảo Lộc về hướng huyện Di Linh, tỉnh L Đồng.
Về giấy phép lái xe: Tại Bản kết luận giám định số 510/KL-KTHS ngày 25/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L Đồng kết luận: Giấy phép lái xe số 790197035201 đề ngày 15/01/2024, họ tên Trần Lê Phong T là thật. K’N không có giấy phép lái xe.
Về nồng độ cồn: Ngay sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh L Đồng đã tiến hành đo nồng độ cồn và Test chất ma túy đối với Trần Lê Phong T và Phạm Thùy Dương, kết quả: nồng độ cồn là 0,000 mg/l, âm tính với chất ma túy. Quá trình khám nghiệm tử thi K'N Cơ quan Công an đã tiến hành thu mẫu máu của K'N để xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của K' N, kết quả: nồng độ cồn (Ethanol) là 172,44mg/dl.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.
Đại diện người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cáo trạng số 65/CT-VKSBL ngày 30/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh L Đồng nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh L Đồng truy T bị cáo Trần Lê Phong T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Lê Phong T từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Lê Phong T đã bồi thường cho gia đình nạn nhân K’N số tiền là 95.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại (bà Ka Thổi – là mẹ của K’N) đã có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự : Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại: 01 xe mô tô biển số 49M1-122.83, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004895 của xe mô tô biển số 49M1-122.83 và 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 681097681981 (bản chính) cho chị Phạm Thùy Dương; 01 xe ô tô biển số 49H-024.36, 01 giấy chứng nhận kiểm định số EA2041567 của xe ô tô biển số 49H-024.36, giấy biên nhận thế chấp của xe ô tô biển số 49H-024.36 cho Công ty TNHH Vận tải hàng hóa Phạm Quốc Tuấn (người được ủy quyền là ông Huỳnh Hữu Thế Tôn, sinh 1986; địa chỉ: TT. Ma Đa Guôi, huyện Đạ Huoai); 01 xe mô tô biển số 49K1-095.18 cho ông K’Nảo, sinh năm 1979, HKTT: thôn 14, xã Hòa Bắc, huyện Di Linh, tỉnh L Đồng – là bố của K’N do vậy đề nghị HĐXX không đề cập đến.
Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng C, số 790197035201 đề ngày 15/01/2024, họ tên Trần Lê Phong T (bản chính) đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo T.
Về hình phạt bổ sung: không đề nghị
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Trần Lê Phong T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định T tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh L Đồng; Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo L nay là Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 – L Đồng trong quá trình điều tra, truy T đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật T tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành T tụng. Do đó các hành vi, quyết định T tụng của Cơ quan tiến hành T tụng, người tiến hành T tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Chiều ngày 09/02/2025, bị cáo Trần Lê Phong T điều khiển xe ô tô tải hiệu HINO biển số 49H-02436 lưu thông trên Quốc lộ 20 theo hướng huyện Di Linh cũ đi thành phố Bảo Lộc, tỉnh L Đồng cũ. Khoảng 16 giờ 49 Pt cùng ngày, khi đến đoạn đường nơi giao nhau với đường không ưu tiên thuộc thôn 4, xã Lộc An, huyện Bảo L, tỉnh L Đồng nay là thôn 4, xã Bảo L 3, tỉnh L Đồng, bị cáo T điều khiển xe ô tô biển số 49H-02436 đi sang phần đường bên trái để vượt các xe ô tô cùng chiều phía trước. Cùng lúc này, xe mô tô biển số 49K1-095.18 do anh K’N điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 49M1-12283 do chị Phạm Thùy Dương điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước với xe mô tô của anh K’N. Sau va chạm anh K’N và xe mô tô biển số 49K1-09518 trượt ngã xuống mặt đường thì tiếp tục va chạm với xe ôtô biển số 49H-024.36 do Trần Lê Phong T điều khiển đi đến.
Bị cáo T điều khiển xe ô tô biển số 49H-024.36 điều khiển xe vượt không đúng quy định (lưu thông vượt xe tại vị trí ngã tư giao nhau với đường không ưu tiên) đã va chạm với xe mô tô biển số 49K1-095.18 do K’N điều khiển làm anh K’N chết. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo L nay là Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 – L Đồng truy T bị cáo về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, hậu quả làm chết một người, do vậy cần phải xử phạt bị cáo tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cân nhắc xem xét đến hành vi, nhân thân và sự khắc phục hậu quả của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả, đại diện người bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, người bị hại cũng có lỗi một phần là điều khiển xe mô tô tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn, không có giấy phép lái xe theo quy định, không giữ khoảng cách an toàn với xe cùng chiều phía trước, điều khiển phương tiện lưu thông đi không đúng làn đường quy định. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
[6] Xét đề nghị của viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – L Đồng thấy rằng: mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 10/2/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng. Đến ngày 7/7/2016 bị cáo đã chấp hành xong Quyết định của Tòa án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo phạm tội mới với lỗi vô ý, người bị hại cũng có lỗi một phần, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật, do đó không cần thiết xử phạt tù giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục theo qui định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Lê Phong T đã bồi thường cho gia đình nạn nhân K’N số tiền là 95.000.000 đồng. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên HĐXX không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại: 01 xe mô tô biển số 49M1-122.83, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004895 của xe mô tô biển số 49M1-122.83 và 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 681097681981 (bản chính) cho chị Phạm Thùy Dương; 01 xe ô tô biển số 49H-024.36, 01 giấy chứng nhận kiểm định số EA2041567 của xe ô tô biển số 49H-024.36, giấy biên nhận thế chấp của xe ô tô biển số 49H-024.36 cho Công ty TNHH Vận tải hàng hóa Phạm Quốc Tuấn (người được ủy quyền là ông Huỳnh Hữu Thế Tôn, sinh 1986; địa chỉ: TT. Ma Đa Guôi, huyện Đạ Huoai); 01 xe mô tô biển số 49K1-095.18 cho ông K’Nảo, sinh năm 1979, HKTT: thôn 14, xã Hòa Bắc, huyện Di Linh, tỉnh L Đồng – là bố của K’N do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng C, số 790197035201 đề ngày 15/01/2024, họ tên Trần Lê Phong T (bản chính) cần trả lại cho bị cáo T.
Về án phí: Bị cáo Trần Lê Phong T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyeân boá: Bị cáo Trần Lê Phong T phạm tội: “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Lê Phong T 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày 14/8/2025.
Giao bị cáo Trần Lê Phong T cho Ủy ban nhân dân xã Tân P, tỉnh Đồng Nai để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo qui định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Veà xöû lyù vaät chöùng: căn cứ Đieàu 47 Boä luaät hình söï, Đieàu 106 Boä luaät toá tuïng hình söï:
Trả lại cho bị cáo Trần Lê Phong T 01 Giấy phép lái xe hạng C, số 790197035201 đề ngày 15/01/2024.
3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Lê Phong T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 14/8/2025 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh L Đồng xét xử Pc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được Nêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh L Đồng xét xử Pc thẩm.
(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên
quan).
“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Lê Thị Sáu - Nguyễn Thị Tài
Vũ Thị Thúy Thành
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L Đồng (2); - VKSND tỉnh L Đồng; - VKSND khu vực 4; - Phòng THADS khu vực 4; - Bị cáo; Người liên quan - Đại diện người bị hại; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Phạm Đức Minh Hoàng Thị M Hằng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thúy Thành Vũ Thị Thúy Thành |