vanban.org

Bản án 31/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 1,5015 gam và toàn bộ bao gói, đồ vật đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HSST
Ngày 19 – 12 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trọng Phụng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Thanh và ông Nguyễn Hữu Nhất.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Thư - Chức vụ Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2025/TLST-HS, ngày 19 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 19xx, tại: tỉnh Nghệ An

Nơi thường trú và nơi ở trước khi phạm tội: Tổ dân phố A, xã Q, tỉnh Đắk Lắk;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn H, sinh năm 19xx và con bà Đậu Thị H1, sinh năm 19xx. Hiện ông bà sinh sống tại: tổ dân phố A, xã Q, tỉnh Đắk Lắk; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Phan Văn T bị bắt tạm giữ từ ngày 05/8/2025 đến ngày 14/8/2025 và chuyển áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay tại Phân trại Tạm giam Buôn Ma Thuột – Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Đắk Lắk – Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phan Văn H, sinh năm 19xx (có mặt)

Địa chỉ: số nhà 21 đường K, Tổ dân phố A, xã Q, tỉnh Đắk Lắk.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 19xx (vắng mặt).

Địa chỉ: Buôn S, xã Q, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 05/8/2025, Phan Văn T điều khiển xe mô tô biển số 47M4-20xx, một mình đi từ xã Q, tỉnh Đắk Lắk đến đường P, phường T, tỉnh Đắk Lắk gặp một người phụ nữ (chưa rõ nhân thân lai lịch). T mua từ người phụ nữ này được một gói ma túy với số tiền là 1.000.000 đồng. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 47M4-20xx, một mình đi về lại hướng xã Q. Trên đường đi, T ghé vào quán tạp hóa bên đường, mua thêm 01 chai nước ngọt Coca-cola và 01 cây thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 47M4- 20xx, một mình đến một căn nhà bỏ hoang bên đường Tỉnh lộ C, thuộc buôn S, xã Q. Tại đây, T lấy khoảng 1/5 số ma túy trong túi nilon ra để sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể. Số ma túy còn lại trong túi nilon T cất giấu trong mảnh giấy được xé ra từ cây thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long mà T mua trước đó rồi để bên cạnh chỗ T ngồi. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T bị tổ công tác Công an xã Q phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đồ vật, tài liệu bị tạm giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk thu giữ vật chứng gồm: 01 mảnh giấy (một mặt màu vàng có in hình hoa văn, một mặt màu trắng) được gấp lại bên trong có 01 túi nilon đựng chất rắn, dạng tinh thể, màu trắng. 01 xe mô tô biển số 47M4-20xx, số máy 6B91-009653, số khung RLCJ5B9106Y009653.

Tại Bản kết luận giám định số: 167/KL-KTHS ngày 11/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng: 1,5361 gam.

Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 18 tháng 11 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk, truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Phan Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu ở trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn T mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 1,5015 gam và toàn bộ bao gói, đồ vật đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Đối với 01 xe mô tô biển số 47M4-20xx, số máy 6B91-009653, số khung RLCJ5B9106Y009653, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật tài liệu bằng hình thức trả lại cho ông Phan Văn H là chủ sở hữu hợp pháp.

Bị cáo không tranh luận bào chữa gì mà chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tại liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Văn T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ ngày 05/8/2025, tại buôn S, xã Q, tỉnh Đắk Lắk, Công an xã Q phát hiện, bắt quả tang Phan Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,5361 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

a)…..

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng các loại dược chất ma túy đều thuộc sự độc quyền quản lý của Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Người nghiện ma túy là tự tàn phá sức khỏe, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân làm lây truyền các căn bệnh xã hội và còn làm phát sinh những loại tội phạm khác nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã mua của một người phụ nữ (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) 01 (một) gói ma tuý về sử dụng tại một căn nhà bỏ hoang bên đường tỉnh lộ C, thuộc buôn S, xã Q và khối lượng ma tuý tàng trữ còn lại là 1,5361 gam, loại Methamphetamine thì bị phát hiện bắt giữ.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Với tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật góp phần giáo dục phòng ngừa tội phạm chung và riêng trong toàn xã hội.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phan Văn T không thuộc trường hợp vi phạm pháp luật hình tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Ngày 21/8/2025, Công an xã Q, tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC đối với Phan Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, bằng hình thức phạt tiền là phù hợp. Ngày 05/11/2025, bị cáo Phan Văn T đã chấp hành nộp phạt số tiền 1.500.000 đồng tại Kho bạc Nhà nước khu vực XIV – Phòng giao dịch số 10.

Trong vụ án này đối với người phụ nữ lạ có đặc điểm cao khoảng 1,7m, da trắng, tóc dài đã bán ma tuý cho Phan Văn T. Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đắk Lắk đã phối hợp với Công an phường T, tỉnh Đắk Lắk để xác minh nhân thân lai lịch, địa chỉ của người này. Tuy nhiên đến nay, Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được đối tượng là ai, có lai lịch như thế nào. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk tiếp tục xác minh làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với ông Phan Văn H là chủ sở hữu của xe mô tô 47M4-20xx không biết Phan Văn T sử dụng xe mô tô biển số 47M4-20xx để đi mua ma túy nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 1,5015 gam và toàn bộ bao gói, đồ vật đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu là hàng cấm, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô biển số 47M4-20xx, số máy 6B91-009653, số khung RLCJ5B9106Y009653, thuộc quyền sỡ hữu của Phan Văn H. Ngày 31/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại 01 xe mô tô biển số 47M4-20xx cho ông Phan Văn H là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 05/8/2025.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 1,5015 gam và toàn bộ bao gói, đồ vật đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu

(Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Đắk Lắk” đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/11/2025).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ