- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Đình P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Dương Đình P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày: 21/02/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Phú – Giáo viên đã nghỉ hưu
Bà Mai Lương Anh – Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2025/TLST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dƣơng Đình P, sinh ngày: 14/4/1995, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi ĐKHKTT: tổ 3, thôn A, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Dương P, sinh năm 1968 và con bà: Phạm Thị Hồng M, sinh năm: 1969; vợ: Mai Hải T, sinh năm 1983 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không.
Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
2.1. Bị hại:
2.1.1. Ông Trương Văn Th (đã chết)
2.1.2. Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Số 534/46 đường V, Phường X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2.1.3. Cháu Trương Tấn P, sinh năm 2021; Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, Đ, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
2.2. Người đại diện hợp pháp của bị hại:
2.2.1. Người đại diện hợp pháp cho bị hại ông Trương Văn Th:
2.2.1.1. Bà Võ Thị Kim T, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Tổ 3, ấp 6, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
2.2.1.2. Bà Trương Thị Như P, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Tổ 12, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Có mặt.
2.2.1.3. Bà Trương Thị Kim T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ 01, thôn 1A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt
2.2.1.4. Bà Trương Thị Như N, sinh năm: 1992; Nơi cư trú: Số 12 đường Nguyễn Công T, Phường X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2.2.1.5. Ông Trương Công S, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, Đ, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
2.2.1.6. Bà Trương Thị Phi Y, sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố 1 Đ, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của tất cả những người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Th: Bà Trương Thị Phi Y, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố 1 Đ, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2.2.2. Người đại diện hợp pháp cho bị hại cháu Trương Tấn P: Bà Ngô Thị Mai H, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, Đ, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.3.1. Công ty TNHH thương mại và dịch vụ N.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1990 – Chức vụ: Giám đốc; Nơi cư trú: Số 58/4S1 Ng, phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
2.3.2. Bà Đỗ Thị H, sinh năm: 1978; Nơi cư trú: Căn 11.06 khu căn hộ cao tầng Lan Phương, 104 H, tổ 4, khu phố 2, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
2.3.3. Ông Trương Đức Bảo K, sinh năm: 2000; Nơi cư trú: Số 31 đường Ng, Phường X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
2.4. Người bào chữa cho bị cáo: Trợ giúp viên pháp lý bà Vương Thị Phương C, bà Lê Thanh L – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: Số 36 đường T, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Đình P có giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 19/4/2023, có giá trị đến 19/4/2028; là nhân viên lái xe của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và dịch vụ N, địa chỉ: 58/4 S1 N, phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 05/2023. Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 08/04/2024, P điều khiển xe ô tô tải hiệu Isuzu, màu tím, biển số 50H-307.77 chở 5.490kg rau củ quả (vượt 8,17% khối lượng được cho phép) từ đường T về đường Ng. Khi đi đến đoạn đường có kẻ vạch đôi, màu vàng ở khu vực gần đường M giao nhau với đường N, Phường X, thành phố Đ; P thấy phía trước cùng chiều lưu thông đang có nhiều phương tiện nên P đã bấm còi, tăng tốc độ để vượt xe, lúc này một nửa thân xe ô tô do P điều khiển đang lấn qua phần đường của các xe đi ngược chiều. Tiếp đó, P thấy ông Trương Văn Th điều khiển xe mô tô hiệu Honda Future, màu đen bạc, biển số 49B1-753.67 chở theo cháu Trương Tấn P đi từ đường N ra đường M nên P đánh lái sang trái để né tránh nhưng do khoảng cách quá gần nên xe ô tô tải do P điều khiển đã va chạm với xe mô tô của ông Th làm ông Th và cháu P ngã ra đường. Lúc này, P nhìn thấy xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 17H6-6995 do ông Đỗ Văn T điều khiển đang dừng lại ở sát mép lề đường bên trái nên Phú đánh lái sang phải để né tránh thì tiếp tục xảy ra va chạm với xe mô tô của ông T làm ông T té ngã lên vỉa hè. Sau khi xảy ra sự việc, P xuống xe nhờ người dân gọi xe cấp cứu, còn P đến Cơ quan công an làm việc; tại đây, P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết quả kiểm tra ma tuý của Dương Đình P vào ngày 08/04/2024: âm tính. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Dương Đình P: 0,000mg/l khí thở. Kết quả cân kiểm tra trọng tải của xe ô tô tải biển số 50H-307.77 do P điều khiển là 11.490kg, vượt 490kg tương đương 8,17% so với trọng tải cho phép.
Tại bản kết luận giám định số 665/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận:
- Dấu vết va chạm:
+ Dấu vết trượt xước, biến dạng (ký hiệu Al) khu vực 1/2 phải tấm ốp trước đầu xe ô tô biển số 50H-307.77 phù hợp với dấu vết trượt (ký hiệu M1) đầu ngoài tay lái bên trái xe mô tô biển số 49B1-753.67.
+ Dấu vết trượt xước, biến dạng (ký hiệu A2) khu vực 1/3 trái cản trước đầu xe ô tô biển số 50H-307.77 phù hợp với dấu vết trượt (ký hiệu M2) mặt ngoài ống lồng giảm xóc trước – trái xe mô tô biển số 17H6-6995.
+ Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 49B1-753.67 với xe mô tô biển số 17H6-6995.
- Chiều hướng lưu thông:
+ Xe ô tô biển số 50H-307.77 đang lưu thông theo chiều từ đường P về hướng đường Ng, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
+ Xe mô tô biển số 49B1-753.67 và xe mô tô biển số 17H6-6995 đang lưu thông theo chiều từ đường Ng về hướng đường P, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Tốc độ phương tiện: Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô biển số 50H-307.77; xe mô tô biển số 49B1-753.67 và xe mô tô biển số 17H6-6995.
- Vùng va chạm đầu tiên chiếu trên mặt đường:
+ Vùng va chạm chiếu trên mặt đường giữa xe ô tô biển số 50H-307.77 với xe mô tô biển số 49B1-753.67 thuộc phần đường dành cho phương tiện lưu thông theo chiều từ đường Ng về hướng đường P, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
+ Vùng va chạm đầu tiên chiếu trên mặt đường giữa xe ô tô biển số 50H-307.77 với xe mô tô biển số 17H6-6995 thuộc phần đường dành cho phương tiện lưu thông theo chiều từ đường Ng về hướng đường P, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐGTS ngày 09/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận:
- Chi phí khôi phục của xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu đen bạc, biển số 49B1-753.67, đưa vào sử dụng năm 2018 tại thời điểm định giá là 9.190.000đồng.
- Chi phí khôi phục của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 17H6-6995, đưa vào sử dụng năm 2004, tại thời điểm định giá là 3.210.000đồng.
- Chi phí khôi phục của xe ô tô nhãn hiệu Isuzu, màu tím, biển số 50H-307.77, đưa vào sử dụng năm 2023, tại thời điểm định giá là 102.409.999đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe ô tô mang biển số 50H-307.77;
- 01 xe mô tô mang biển số 17H6-6995;
- 01 xe mô tô mang biển số 49B1-753.67;
- 01 giấy phép lái xe hạng C, số: 680139003468 mang tên Dương Đình P;
- 01 giấy chứng nhận kiểm định số EB 0240488 của xe ô tô biển số 50H-307.77;
- 01 giấy phép lái xe hạng A1, số N759233 mang tên Đỗ Văn T;
- 01 giấy đăng ký xe mô tô số 0099769 mang tên Đỗ Thị H.
Xử lý vật chứng:
- Ngày 06/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra các Quyết định xử lý vật chứng số 4594, 4595, 4596 trả lại các tài sản gồm: 01 xe mô tô mang biển số 17H6-6995; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số N759233 mang tên Đỗ Văn T và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 0099769 mang tên Đỗ Thị H cho ông Đỗ Văn T; trả lại 01 xe mô tô mang biển số 49B1-753.67 cho anh Trương Đức Bảo K và trả lại 01 xe ô tô tải, hiệu Isuzu, màu tím, biển số 50H-307.77, 01 giấy chứng nhận kiểm định số EB 0240488 của xe ô tô biển số 50H-307.77 cho ông Nguyễn Văn S.
- Ngày 01/07/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2641 trả lại các tài sản gồm: 01 xe ô tô biển số 50H-307.77 51H-765.94 cho ông Nguyễn Văn S.
Bị hại:
1. Ông Trương Văn Th, sinh năm 1954; hộ khẩu thường trú: Tổ 3, Ấp 6, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 48/KLGĐTT-PYLĐ ngày 06/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Ông Th bị tụ máu dưới da giữa ngực, gãy xương ức, gãy xương sườn hai bên lồng ngực và xương ức, gãy kín 1/3 dưới xương đùi trái và gãy kín 1/3 dưới xương chày trái. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
Đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Võ Thị Kim T, sinh năm: 1966; hộ khẩu thường trú: Tổ 3, Ấp 6, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vợ của ông Th).
- Bà Trương Thị Như P, sinh năm: 1988; hộ khẩu thường trú: Tổ 12, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (con gái ruột của ông Th).
- Bà Trương Thị Kim T, sinh năm: 1989; hộ khẩu thường trú: Tổ 01, thôn 1A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (con gái ruột của ông Th).
- Bà Trương Thị Phi Y, sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 1, Đ, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (con gái ruột của ông Th).
- Bà Trương Thị Như N, sinh năm 1992; hộ khẩu thường trú: số 12 Nguyễn Công T, Phường X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (con gái ruột của ông Th).
- Ông Trương Công S, sinh năm 1995; hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 1, Đ, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (con trai ruột của ông Th).
Ngày 04/06/2024, bà T, bà P, bà T, bà N và ông S ủy quyền cho bà Trương Thị Phi Y giải quyết các yêu cầu về bồi thường dân sự. Hiện nay, bị cáo Dương Đình P và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và dịch vụ N đã đến thăm hỏi và bồi thường số tiền 140.500.000đồng cho gia đình bị hại Th. Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trương Thị Phi Y đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và đã viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo P.
2. Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1967; hộ khẩu thường trú: xóm 8, thôn Đông Bắc, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; hiện trú tại: 534/46 V, Phường X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng bị thương tích ở mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái và gãy đầu dưới xương quay trái. Tại bản kết luận giám định thương tích số: 389/KLTTCT-PYLĐ ngày 25/06/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông T tại thời điểm giám định là 11%, tổn thương do va đập gây nên. Hiện nay, bị cáo Dương Đình P và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và dịch vụ N đã đến thăm hỏi và bồi thường số tiền 15.000.000đồng cho ông T, ông T đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm.
3. Cháu Trương Tấn P, sinh năm 2021; hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 1, Đ, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng bị thương tích ở môi trên, gãy xương đòn trái và gãy 1/3 trên xương cánh tay trái. Tại bản kết luận giám định thương tích số: 435/KLTTCT-PYLĐ ngày 15/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu P tại thời điểm giám định là 31%, tổn thương do va đập gây nên. Người giám hộ của cháu P là bà Ngô Thị Mai H, sinh năm 1997 (mẹ ruột của cháu P). Hiện bị cáo P đã bồi thường số tiền 30.000.000đồng cho cháu P, bà Ngô Thị Mai H đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1990, hiện đang trú tại 58/4S1 Nguyễn Thị Búp, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Ngọc Huyền Anh. Hiện ông Sơn đã nhận lại các tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
2. Bà Đỗ Thị Hòa, sinh năm: 1978, hiện trú tại: Căn hộ 11.06 Khu căn hộ cao tầng Lan Phương, 104 Hồ Văn Tư, Tổ 4, Khu phố 2, phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô 17H6-6995. Quá trình điều tra xác định bà Hòa đã bán xe trên cho ông Đỗ Văn T vào năm 2020, hiện bà Hòa không có yêu cầu gì khác.
3. Anh Trương Đức Bảo Khánh, sinh năm: 2000; hiện trú tại: số 31 đường Ng, Phường X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô Honda Future, biển số 49B1-753.67. Hiện ông Khánh đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, đã cùng Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ N bồi thường cho gia đình ông Th số tiền 140.500.000đồng, bồi thường cho cháu P số tiền 30.000.000đồng, bồi thường cho ông T số tiền 15.000.000đồng và đã được đại diện hợp pháp của bị hại Th viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSĐL-LĐ ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Dương Đình P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa,
Bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng và khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Đình P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Dương Đình P từ 30 đến 36 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Trợ giúp viên pháp lý bà Lê Thanh L là người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: người bào chữa không tranh luận về tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là quá nghiêm khắc; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả; ngoài ra tại phiên toà hôm nay những người đại diện hợp pháp của người bị hại và người bị hại ông T đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thuộc hộ cận nghèo, bị cáo còn phải trợ cấp nuôi con còn nhỏ. Vì vậy đề nghị xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện làm việc, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo đồng ý với lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý, không có ý kiến gì bổ sung.
Người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo khai nhận: Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 08/04/2024, bị cáo là nhân viên lái xe của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ N điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Isuzu, màu tím, biển số 50H-307.77 chở hàng hóa vượt 8,17% trọng tải được cho phép lưu thông theo hướng từ đường T đi về hướng đường Ng, Phường X, thành phố Đ. Khi đi đến gần đoạn đường giao nhau với đường N, bị cáo đã điều khiển xe thiếu quan sát, sử dụng làn đường không đúng quy định, vượt xe khác khi không đảm bảo an toàn dẫn đến việc tông trúng xe mô tô Honda Future, màu đen bạc, biển số 49B1-753.67 do ông Trương Văn Th chở theo cháu Trương Tấn P đang đi từ đường N ra đường M, Phường X, thành phố Đ, sau đó xe ô tô tải do P điều khiển tiếp tục tông trúng xe mô tô Honda Wave, màu xanh, biển số 17H6-6995 do ông T điều khiển đang dựng bên lề đường phía bên trái theo chiều lưu thông của P, hậu quả làm ông Th tử vong, cháu P bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31% và ông T bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%.
Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo Dương Đình P đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông đường bộ quy định tại khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 13, khoản 2 Điều 14, khoản 1 Điều 28 Luật Giao thông đường bộ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Đình P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự;
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã cùng Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ N bồi thường cho gia đình ông Th số tiền 140.500.000đồng, bồi thường cho cháu P số tiền 30.000.000đồng, bồi thường cho ông T số tiền 15.000.000đồng và đã được đại diện hợp pháp của bị hại Th viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà hôm nay đại diện hợp pháp của người bị hại bà Trương Thị Phi Y, bà Ngô Thị Mai H và người bị hại ông Đỗ Văn T đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo cung cấp đơn xác nhận là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thuộc hộ cận nghèo và đang phải trợ cấp nuôi con nhỏ nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, đã làm chết 01 người và 02 người bị thương với tỷ lệ thương tật 31% và 11%; hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương nên cần xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng: đối với giấy phép lái ô tô hạng C số 680139003468 mang tên Dương Đình P đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, xét thấy cần trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: tại phiên toạ hôm nay, đại diện hợp pháp của bị hại và người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Dương Đình P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Đình P 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo Dương Đình P 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số 680139003468 mang tên Dương Đình P.
(Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/01/2025 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Dương Đình P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chỉ được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND thành phố Đ; - Phòng PV06 Công an tỉnh Lâm Đồng; - Công an thành phố Đ; - Chi cục Thi hành án thành phố Đ; - Bị cáo; - Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Bộ phận theo dõi thi hành án hình sự; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Hoàng |