- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Quốc P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Quốc P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 9 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2025/HS-ST. Ngày: 23 – 9 – 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Rực;
Ông Võ Văn Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST- HS, ngày 05 tháng 9 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Võ Quốc P, sinh ngày 30/4/1992; nơi sinh: Tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: Ấp H, xã H, Thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn R, sinh năm 1967 và bà Trần Thị Huệ P1, sinh năm 1970; gia đình có 02 anh, em và bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; có vợ là Nayh D, sinh năm 1993 (không có đăng ký kết hôn); có 01 người con sinh năm 2025; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2025 cho đến nay (có mặt).
Bị hại: Ông Lê Bé T, sinh năm 1999; nơi cư trú: Ấp T, xã T, Thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn N, sinh năm 1970; nơi cư trú: Ấp T, xã T, Thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 2003; trú tại: Ấp T, xã T, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 21 tháng 01 năm 2025, bị cáo Võ Quốc P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60N4-7821 lưu thông trên huyện lộ 35 hướng từ ngoài tỉnh lộ 934 về hướng cầu M, khi đến khu vực ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 83H9-3313 do ông Lê Bé T điều khiển đi theo hướng ngược lại nhưng đi theo phần đường bên trái theo hướng điều khiển xe của bị cáo. Bị cáo P nhìn thấy đèn xe ông T chiếu sáng nên đánh tay lái sang trái theo hướng bị cáo điều khiển va chạm vào xe ông T đang điều khiển theo hướng ngược lại dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả bị cáo P và ông T bị thương tích và được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh S. Do bị chấn thương nặng nên ông T được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố H điều trị.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 113/KLTTCT- TTPYST ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh S, kết luận:
- Các kết quả chính:
+ Sẹo tổn thương và sẹo phẫu thuật trùng nhau từ thái dương phải - trán - đến thái dương trái, kích thướt lớn, sẹo ngang mi trên mí mắt, kích thước trung bình: Dập não xuất huyết trán hai bên, xuất huyết dưới nhện rải rác, tụ khí nội sọ, gãy vỡ xoang trán, sàn sọ trước, trần ổ mắt hai bên; CT scan sọ não, khuyết xương sọ vùng trán, đường kính 05 cm đáy phập phòng, giảm đậm độ mô não vùng trán hai bên do tổn thương cũ, gãy thành xoang hàm, trán, sáng, bướm, tụ máu các xoang cạnh mũi, gãy xương mũi, vách ngăn, khẩu cái, mãnh chân bướm hai bên, rách củng mạc phức tạp, cách rìa toạc vùng sau, phòi tổ chức hắc mạc, đã được phẩu thuật khâu cùng mạc bảo tồn nhãn cầu, thị lực mắt trái sáng tối (-), thị lực mắt phải không kính 10/10; Căn cứ vào Bảng 1, chương 8, mục 1.3 + nguyên tắc, mục 1.3 + nguyên tắc chung, chương I, mục 1.5.2, chương I, mục III.1, chương 12, mục II.4.3 và chương 10, mục XV. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (ba phần trăm), 06% (sáu phần trăm), 26% (hai mươi sáu phần trăm), 21% (hai mươi mốt phần trăm), 36% (ba mươi sáu phần trăm) và 41% (bốn mươi mốt phần trăm).
+ Sẹo dẫn lưu sọ não vùng đỉnh phải, kích thước nhỏ; căn cứ Bảng 1, chương 8, mục I.1. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01% (một phần trăm).
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Bé T tại thời điểm giám định là 80% (tám mưới phần trăm).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, kết luận: Xe mô tô Biển kiểm soát 83H9-3133 đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông với tổng số tiền là 1.003.000 đồng (một triệu không trăm linh ba nghìn đồng).
Tại phiếu kết quả xét nghiệm lúc 08 giờ 45 phút, ngày 03 tháng 02 năm 2025, kết quả nồng độ cồn trong máu của Võ Quốc P là 2.80mg/ml máu.
Từ những dấu vết để lại tại hiện trường, trên phương tiện giao thông và kết quả điều tra xác định: Nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông trên do lỗi của bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát BKS 60N4- 7821 trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn 2.80mg/ml máu, điều khiển xe di chuyển không đúng phần đường quy định (lấn sang phần đường bên trái) và bản thân chưa được cấp giấy phép lái xe hạng A1 nên khi phát hiện bị hại điều khiển xe phía trước với khoảng cách quá gần, không xử lý kịp dẫn đến vụ tai nạn giao thông, hậu quả làm bị hại bị tổn thương cơ thể là 80%. Hành vi của bị cáo đã vi phạm một trong các hành vi bị nghiêm cấm quy định khoản 1, 2 Điều 9 và khoản 1 Điều 10 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024.
Về vật chứng của vụ án:
+ 07 mảnh nhựa vở, có kích thước, hình dáng khác nhau;
+ 01 (Một) xe môtô mang biển kiểm soát: 83H9- 3313 đã qua sử dụng, bị trầy xước, hư hỏng do tai nạn giao thông.
+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 83H9. 3313, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu là ông Lê Văn N1.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, kết luận: Xe mô tô Biển kiểm soát 83H9-3133 đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông với tổng số tiền là 1.003.000 đồng (một triệu không trăm linh ba nghìn đồng).
Xét thấy đủ căn cứ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S (Nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố C) đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Võ Quốc P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKSKV9, ngày 04/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ để xét xử bị cáo Võ Quốc P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi công khai đại diện Viện kiểm sát rút lại một phần truy tố đối với bị cáo tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, vẫn giữ nguyên một phần quyết định truy tố bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Quốc P mức hình phạt từ 03 (ba) năm đến 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Đối với xe mô tô biển kiểm soát 83H9. 3313, Công an thành phố C đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu là ông Lê Văn R1 theo đúng quy định nên không đặt ra xem xét;
+ Trả lại cho bị cáo 01 xe môtô mang biển kiểm soát: 60N4-7821, số máy VUMTHYG150FMH5Y100402, số khung RRHWCH7RH5A400402; nhãn hiệu WAYMAN; màu sơn: Xanh do ông Điểu Công T1 đứng tên đã qua sử dụng, bị trầy xước, hư hỏng do tai nạn giao thông do bị cáo đã mua lại của ông T1 vào năm 2010 chưa làm thủ tục sang tên theo quy định.
+ 07 mảnh nhựa vở, có kích thước, hình dáng khác nhau không còn giá trị sử dụng, bị hại không yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu cho tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 70.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa bị hại Lê Bé T đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
- Về trách nhiê ̣m dân sự: Bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại 70.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm.
Trong quá trinh điều tra và tại phiên tòa bị cáo Võ Quốc P đã thừa nhận
̀ toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vu ̣ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vu ̣ án đa ̃ được tranh tu ̣ng ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhận đi ̣nh như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, người làm chứng là ông Nguyễn Văn Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét sự vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, người tham gia tố tụng không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ vào Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Tại phiên tòa, sau khi kết thúc việc xét hỏi Kiểm sát viên rút một phần truy tố đối với bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Giữ nguyên một phần quyết định truy tố bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, việc rút một phần truy tố nêu trên của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên căn cứ vào Điều 319, Điều 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần truy tố nêu trên và chỉ xem xét, xét xử đối với tội danh mà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.
. Tại phiên toà, bị cáo Võ Quốc P đã thừ a nhâ ̣n toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát, cụ thể: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 21 tháng 01 năm 2025, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60N4-7821 (nồng độ cồn trong máu 2.80 mg/ml) lưu thông trên huyện lộ 35 hướng từ tỉnh lộ 934 về hướng Cầu M khi đến khu vực ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 83H9-3313 do ông Lê Bé T điều khiển ngược lại theo hướng bên trái của bị cáo. Khi phát hiện xe ông T, bị cáo nhìn không rõ nên đã đánh tay lái lấn sang phần đường bên trái đụng vào xe ông T, hậu quả ông T bị tổn thương cơ thể là 80%, gây thiệt hại tài sản 1.003.000 đồng (một triệu không trăm linh ba nghìn đồng). Đối vớ i lờ i khai nhâ ̣n tô ̣i và mứ c đô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo nhâ ̣n thấy, lời thừ a nhận tội của bị cáo ta ̣i phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; phù hợp vớ i các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được lưu giữ trong hồ sơ vu ̣ án.
. Nhận định về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo: Bị cáo biết rằng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ thế nhưng dù cơ thể đang trong tình trạng có nồng độ cồn nhưng bị cáo vẫn tham gia giao thông, điều khiển xe lưu thông không đúng phần đường quy định dẫn đến gây tai nạn làm bị hại Lê Bé T bị tổn thương cơ thể là 80%, gây thiệt hại tài sản 1.003.000 đồng (một triệu không trăm lẻ ba nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 và khoản 1 Điều 10 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 và gây hậu quả làm người bị hại tổn thương cơ thể 80%. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện với lỗi vô ý dẫn đến vụ tai nạn giao thông. Từ phân tích nêu trên hành vi của bị cáo thực hiê ̣n đa ̃ cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng số: 22/CT-VKSKV9, ngày 04/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ truy tố bị cáo Võ Quốc P về tội danh và khung hinh pha ̣t nêu trên là đúng người, đúng
̀
tội, đúng pháp luật, không oan cho bi ̣ cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, không những gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe cho người khác và gây mất trật tự an toàn giao thông tại địa phương nơi xảy ra vụ án; bị cáo nhận thức được trong người đang có nồng độ cồn nhưng xem thường Luật giao thông đường bộ vẫn tham gia giao thông nên đã gây ra tai nạn. Do đó, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
. Về tinh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiê ̣m hinh sự: Trong vụ án này
̀
̀ bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường khắc phục hậu quả theo yêu cầu bị hại; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, do bị cáo có nhân thân tốt, tại phiên tòa thành khẩn khai báo; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và trong vụ án bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng). Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về xử lý vật chứng:
+ Trong quá trình điều tra, đối với xe mô tô biển kiểm soát 83H9. 3313, Công an thành phố C đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu là ông Lê Văn R1 theo đúng quy định nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;
+ Đối với 01 xe môtô mang biển kiểm soát: 60N4-7821, số máy VUMTHYG150FMH5Y100402, số khung RRHWCH7RH5A400402; nhãn hiệu WAYMAN; màu sơn: Xanh do ông Điểu Công T1 đứng tên đã qua sử dụng, bị trầy xước, hư hỏng do tai nạn giao thông do bị cáo đã mua lại của ông T1 vào năm 2010 chưa làm thủ tục sang tên theo quy định. Xét thấy, quá trình điều tra thì xe mô tô trên không phải là tài sản bị mất trộm hay liên quan đến hành vi phạm tôi khác, không làm việc được với người đứng tên chủ sở hữu là ông T1 và bị cáo là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng hiện không có tranh chấp nên áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự giao trả lại cho bị cáo.
+ 07 mảnh nhựa vở, có kích thước, hình dáng khác nhau không còn giá trị sử dụng, bị hại không yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu cho tiêu hủy.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bi ̣ cáo Võ Quốc P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Võ Quốc P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Võ Quốc P: 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Giao trả lại cho bị cáo 01 xe môtô mang biển kiểm soát: 60N4-7821, số máy VUMTHYG150FMH5Y100402, số khung RRHWCH7RH5A400402; nhãn hiệu WAYMAN; màu sơn: Xanh đã qua sử dụng, bị trầy xước, hư hỏng do tai nạn giao thông.
+ Tịch thu, tiêu huỷ 07 mảnh nhựa vở, có kích thước, hình dáng khác nhau không còn giá trị sử dụng.
(Hiện nay do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Cần Thơ quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/9/2025).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bi ̣ cáo Võ Quốc P phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND thành phố Cần Thơ; - Phòng HSNV-CA TP. Cần Thơ (PV06); - CQTHAHS-CA TP. Cần Thơ (PC10); - Cơ quan CSĐT-CA. TP Cần Thơ; - VKSND Khu vực 9-Cần Thơ; - Cơ quan THADS thành phố Cần Thơ; - Phòng THADS Khu vực 9-Cần Thơ; - UBND xã Hòa Tú 1, Thành phố Cần Thơ; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Bảo |