vanban.org

Bản án 31/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6- THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS- ST
Ngày 19 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Đình Hồng; ông Trịnh Hồ Điền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân (viết tắt: TAND) khu vực 6- Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt: VKSND) khu vực 6- Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở TAND khu vực 6 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST- HS ngày 04/11/2025 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN S, sinh ngày: 01/3/1992, tại tỉnh Thanh Hoá; CCCD số: 038092030719; Cư trú tại: Thôn C, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tiến L; Con bà: Nguyễn Thị N; Vợ: Lê Thị B; Con: có 02 con: con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền sự: không; Tiền án: 01 tiền án: Ngày 01/03/2024, bị TAND tỉnh Thanh Hoá xử phạt 24 tháng tù tại bản án số 27/2024/HSST về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/4/2025; Bi cáo bị tạm giữ từ ngày 13/7/2025 đến ngày 22/7/2025, ngày 22/7/2025 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực H (có mặt)

* Bị hại: 1. Anh Nguyễn Bá L1, sinh năm 1980 (đã chết)

2. Cháu Nguyễn Đức P, sinh năm 2013 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Bá L1 và cháu Nguyễn Đức P: Chị Lê Thị D, sinh năm 1982

Cư trú tại: Tiểu khu C, xã H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị C, sinh năm 1972

Cư trú tại: Thôn P, xã H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn S, có giấy phép lái xe ô tô hạng FC, số 380110387946 do Sở giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 20/12/2024, hạn sử dụng đến ngày 20/12/2029, là lái xe thuê cho chị Đinh Thị C. Vào khoảng 07 giờ, ngày 13/7/2025 Nguyễn Văn S điều khiển xe ô tô BKS 36F-006.66 kéo rơ moóc BKS 36R-034.69 từ xã H, tỉnh Thanh Hóa đến xã V để chở vât liệu xây dựng (đất, cát, đá 1x2…) Khi đến K+200 đường QL217 thuộc địa phận thôn N, xã H, tỉnh Thanh Hóa, S điều khiển xe từ QL1A vào QL 217 khoảng 200m đến khu vực đèn tín hiệu, lúc này do mất điện nên đèn giao thông không hoạt động, S tiếp tục điều khiển xe ô tô, khi di chuyển đến khu vực ngã tư đèn tín hiệu giao thông do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên đã va chạm với xe mô tô BKS 36G1-094.38 do anh Nguyễn Bá L1 phía sau chở theo cháu Nguyễn Đức P (là học sinh lớp 6B THCS Lý Thường K) di chuyển theo hướng đường TL508 đi Bệnh viện đa khoa huyện H.

Hậu quả: Cháu Nguyễn Đức P bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T đến 12 giờ cùng ngày thì tử vong. Anh Nguyễn Bá L1 bị thương tích được chuyển đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện H đến ngày 16/7/2025 thì tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ tại Km0+200 QL217, đây là khu vực ngã tư giao nhau giữa QL217 với Tỉnh lộ 508 thuộc địa phận thôn N, xã H, tỉnh Thanh Hóa, có đèn tín hiệu giao thông, vạch kẻ đường cho người đi bộ, gờ giảm tốc. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường thẳng, phẳng, rải nhựa áp phan, rộng 10,7 mét. Trên đường có vạch kẻ sơn màu vàng phân chia 02 làn xe lưu thông ngược chiều nhau.

Lấy mốc lộ giới Km0+200 làm mốc đo (A), lấy mép đường QL217 theo hướng T- Đ làm mép chuẩn (B). Tại hiện trường xác định 03 vị trí dấu vết như sau:

Vị trí số (1) hệ thống 04 vết tỳ trượt song song, (dạng vết phanh xe ô tô) dài 25,95 mét mỗi vết có độ rộng nhất là 20cm, độ hẹp nhất là 15 cm. Mép ngoài hai vết xa nhất cách nhau 1,9 mét. Vết có chiều T đến Đ, chếch từ T sang Đ. Đầu vết cách (A) là 9,8 mét. Đầu vết cách (B) lầ 8,1 mét, cuối vết cách (B) là 6,5 mét.

Vị trí số (2) vết cà không liên tục có lẫn chất dịch màu đen (dạng dầu luyn) trong diện 14,6 mét x 0,4 mét, cuối vết có vết dịch màu đen (dạng dầu luyn) trong diện (1,4 mét x 1 mét), vết có chiều từ Tây sang Đ. Đầu vết cách (1) là 17,7 mét về phía T, cách (B) là 6,9 mét, cuối vết cách (B) là 3,3 mét.

Vị trí số (3) vùng mảnh nhựa vỡ trong diện 1,5 mét x 1,7 mét. T1 vết cách đầu vết (2) là 1,2 mét, cách (B) là 4,7 mét.

Mở rộng hiện trường, rà soát biển báo giao thông tại khu vực bên phải đường QL217 (chiều T - Đ) tại vị trí Km0 + 100 QL17 có 01 biển cảnh báo 207a và 01 biển cảnh báo 203a (giao nhau với đường không ưu tiên, đường bị hẹp).

Kết luận trưng cầu giám định nguyên nhân chết: Tại Kết luận giám định số: 2515/KLGĐTT-PC09 ngày 18/7/2025 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của cháu Nguyễn Đức P do Chấn thương sọ não.

Tại Kết luận giám định số: 2632/KLGĐTT-PC09 ngày 23/7/2025 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Bá L1 do Chấn thương sọ não.

Kết luận trưng cầu giám định dấu vết cơ học: Tại Kết luận giám định số: 2571/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

1. Điểm va chạm đầu tiên giữa 02 phương tiện: Mặt trước ba đờ xốc trước cách thành xe bên trái 43cm, xe ô tô BKS: 36F – 006.66 kéo rơ moóc BKS: 36R - 034.69 (ảnh 5,6,7) với mặt trước ngoài đầu mút tay nắm bên trái, xe mô tô BKS: 36G1-094.38

Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt (2), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trong khu vực ngã tư giao nhau giữa QL217 với tỉnh lộ 508.

2. Tại thời điểm va chạm xe mô tô BKS 36G1 - 094.38 có hướng chuyển động gần vuông góc, từ phải qua trái so với hướng chuyển động của xe ô tô BKS: 36F-006.66 kéo rơ moóc BKS 36R - 034.69

Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô BKS: 36F – 006.66 kéo rơ moóc BKS 36R - 034.69 và xe mô tô BKS 36G1 - 094.38 tại thời điểm xảy ra tai nạn.

3. Ngoài va chạm với nhau, không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô BKS: 36F - 006.66 kéo rơ moóc BKS 36R - 034.69 và xe mô tô BKS 36G1 - 094.38 với người, đồ vật và phương tiện khác.

Kết quả trưng cầu giám định cồn, chất ma tuý:

- Tại bản kết luận giám định số 5568/KL-KTHS ngày 31/7/2025 của V Bộ C1, kết luận:

Trong mẫu máu ghi thu của anh (ký hiệu Nguyễn Văn S - M) gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn).

Trong mẫu máu ghi thu của anh (ký hiệu Nguyễn Bá L1 - M) gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn).

- Tại bản kết luận giám định số: 5603/KL-KTHS ngày 04/8/2025 của V Bộ C1 kết luận:

Không tìm thấy chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý trong mẫu máu ghi thu của Nguyễn Văn S và Nguyễn Bá L1 gửi giám định. Quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Văn S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, đã tác động với gia đình và chủ xe ô tô để bồi thường hại cho gia đình bị hại. Bị cáo phạm tội khi đang có tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là “tái phạm”.

* Việc thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

Đối với xe tô BKS: 36F - 006.66 kéo rơ moóc BKS: 36R - 034.6 quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Đinh Thị C (đã uỷ quyền cho ông Nguyễn Xuân T2) cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T2 là có căn cứ và đúng quy định;

Đối với xe mô tô BKS: 36G1 - 094.38 xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Bá L1 và các giấy tờ xe gồm: chứng nhận đăng ký xe mô tô số 299775, giấy phép lái xe hạnh A1 số 0511107 mang tên Nguyễn Bá L1, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho đại diện hợp pháp của anh L1 là chị Lê Thị D (vợ của a L1) là có căn cứ và đúng quy định;

Đối với giấy phép lái xe hạng FC số 380110387946 mang tên Nguyễn Văn S được chuyển cùng hồ sơ vụ án;

Đối với các giấy tờ gồm: Một giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36 000248, đối với xe ô tô BKS 36F - 006.66; Một giấy chứng nhận đăng ký rơ mooc, sơmi rơ mooc số 36 000017, đối với sơmi rơ mooc BKS 36R - 034.69; Một giấy chứng nhận kiểm định số EB 0361643 đối với ô tô BKS 36F - 006.66, có hiệu lực đến hết ngày 07/3/2026; Một giấy chứng nhận kiểm định số EB 0361642 đối với sơmi rơ mooc BKS 36R - 034.69, có hiệu lục hết ngày 07/3/2025; Một giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 25BB250125773, đối với xe ô tô BKS 36F - 006.66, có hiệu lực đến hết ngày 28/3/2026; Một giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô 25BB250125773 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã chuyển đến phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T để xem xét xử lý vi phạm hành chính về hành vi xe có đăng ký hoạt động kinh doanh vận tải nhưng không lắp đặt giám sát hành trình GPS theo quy định.

* Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, đại diện theo ủy quyền của chủ xe ô tô là anh Nguyễn Xuân T2 và gia đình bị cáo Nguyễn Văn S đã thống nhất bồi thường dân sự cho chị Lê Thị D (người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Bá L1, cháu Nguyễn Đức P) số tiền 700.000.000 đồng. Chị D đã nhận số tiền 500.000.000đ, số tiền còn lại hai bên thống nhất sẽ giao nhận trước ngày 31/12/2025. Chị D không yêu cầu đề nghị gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (viết tắt: TNHS) cho Nguyễn Văn S.

Đối với thiệt hại trong vụ tai nạn xe ô tô BKS: 36F - 006.66 và xe mô tô BKS: 36G1 - 094.38 bị hư hỏng nhẹ, các bên không có yêu cầu đề nghị gì.

* Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKSKV6 ngày 28 tháng 10 năm 2025 của VKSND khu vực 6- Thanh Hoá truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự (viết tắt: BLHS);

Tại phiên tòa Đại diện VKS duy trì công tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS đối với bị cáo.

* Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, đại diện theo ủy quyền của chủ xe ô tô là anh Nguyễn Xuân T2 và gia đình bị cáo Nguyễn Văn S đã thống nhất bồi thường dân sự cho chị Lê Thị Dân S1 tiền 700.000.000 đồng. Chị D đã nhận số tiền 500.000.000đ, số tiền còn lại hai bên thống nhất sẽ giao nhận trước ngày 31/12/2025. Chị D không yêu cầu đề nghị gì thêm nên đề nghị miễn xét.

* Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (viết tắt: BLTTHS) đề nghị trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng FC, số 380110387946 mang tên Nguyễn Văn S.

* Án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo có 02 con nhỏ đang nhờ họ hàng trông nom, bố già yếu, vợ đang chấp hành án, nên mong HĐXX cho bị cáo mức án thấp nhất có thể để bị cáo trở về với gia đình cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; VKSND khu vực 6- Thanh Hoá, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của BLTTHS. Quá trình điều tra bị cáo, đại diện bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của VKS. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 7 giờ 30 phút, ngày 13/7/2025 tại Km 0+200 QL217 thuộc địa phận thôn N, xã H, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn S điều khiển xe ô tô 36F-006.66 kéo rơ moóc BKS 36R- 034.69 di chuyển đến khu vực ngã tư đèn tín hiệu giao thông, nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, có biển cảnh báo nguy hiểm nhưng thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 36G1-094.38 do anh Nguyễn Bá L1 điều khiển chở phía sau là cháu Nguyễn Đức P (con trai anh L1).

Hậu quả: Cháu Nguyễn Đức P bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T đến 12 giờ cùng ngày thì tử vong. Anh Nguyễn Bá L1 bị thương tích được chuyển đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện H đến ngày 16/7/2025 thì tử vong.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" tội phạm và hình phạt được quy định xử lý tại điểm đ khoản 2 Điều 260 BLHS.

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của Nguyễn Văn S điều khiển xe ô tô di chuyển đến khu vực ngã tư đèn tín hiệu giao thông, nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, có biển cảnh báo nguy hiểm nhưng thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô do anh Nguyễn Bá L1 điều khiển chở phía sau là cháu Nguyễn Đức P. Hậu quả cháu Nguyễn Đức P và anh Nguyễn Bá L1 đều tử vong. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nên đau khổ mất mát to lớn cho thân nhân anh L1, không những cướp đi tính mạng của hai người trong cùng một gia đình mà còn gây tâm lý hoang mang cho những người tham gia giao thông trên địa bàn và dư luận cho xã hội nói chung. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo bằng mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội có 01 tình tiết tăng nặng TNHS là tái phạm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 BLHS.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện theo ủy quyền của chủ xe ô tô là anh Nguyễn Xuân T2 và gia đình bị cáo Nguyễn Văn S đã tự nguyện bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; bị cáo đầu thú, đại diện gia đình bị hại có đơn xin xem xét giảm nhẹ TNHS. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điểm a khoản 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

Xét bị cáo phạm tội do lỗi vô ý. Lỗi để xảy ra hậu quả nghiêm trọng gây chết người là lỗi hỗn hợp. Cả hai bên đều không tuân thủ đúng và đầy đủ các quy tắc tham gia giao thông đường bộ (hai bên đều có lỗi), vì thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng xe một cách an toàn nên xảy ra tai nạn. Tuy nhiên, vì anh L1 đã chết nên không xem xét trách nhiệm pháp lý đối với anh L1. Vì vậy, HĐXX thấy khi xem xét mức hình phạt cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, bị cáo đã chủ động thăm hỏi và tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 700.000.000đ. Đại diện gia đình nạn nhân đã nhận số tiền 500.000.000 đồng, còn lại số tiền 200.000.000đ hai bên thống nhất sẽ giao nhận trước ngày 31/12/2025 nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số 380110387946 mang tên Nguyễn Văn S.

Án phí HSST: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ:

- Điểm đ khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự

- Điều 21, Điều 23, khoản 1 mục I Danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"

3. Xử phạt: Nguyễn Văn S 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/7/2025

4. Xử lý vật chứng:Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 giấy phép lái xe giấy phép lái xe hạng FC, số 380110387946 do Sở giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 20/12/2024 mang tên Nguyễn Văn S (trả lại tại Tòa án).

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, đại diện bị hại, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/11/2025). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án về phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Toà án niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ