vanban.org

Bản án 31/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến D 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/8/2025. Giao bị cáo Nguyễn Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Thanh Hoá để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưở… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 260 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST
Ngày: 28-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Út và ông Nguyễn Văn Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến D, sinh năm 1997 tại Thanh Hoá; Nơi cư trú: Thôn C, xã C, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công X và bà Phạm Thị T; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đang thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Võ Thụy Phương T1. sinh năm: 1982. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường P, tỉnh Khánh Hòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Đ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc D1, sinh năm: 1984. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường P, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tiến D lái xe taxi cho Công ty TNHH Đ. Địa chỉ tại số E Đ, phường P - T, tỉnh Khánh Hòa. Khoảng 23 giờ 05 phút ngày 05/11/2024, Nguyễn Tiến D điều khiển xe ô tô taxi biển số 85H – 013.33 chở khách lưu thông trên đường T, hướng từ phường P đi phường Đ (trước là phường P đi phường M). Khi đến khu vực ngã tư giao nhau đường T - L – Chu Huy M thuộc phường P do không giảm tốc độ xe đến mức an toàn và thiếu chú ý quan sát nên đã tung vào xe mô tô biển số 59M1 – 526.80 do Nguyễn Văn H, sinh năm 1980, ở phường P, tỉnh Khánh Hòa điều khiển lưu thông hướng từ đường C ra đường T, gây tai nạn, làm H bị thương tích nặng, đến khoảng 15 giờ ngày 06/11/2024 H chết. Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra tại ngã tư giao nhau đường T - L - C, thuộc khu phố A, phường P, thành phố P - T (nay là phường P, tỉnh Khánh Hòa). Ngã tư đường được trải nhựa bằng phẳng, có hệ thống đèn chiếu sáng, không che khuất tầm nhìn, có biển báo hiệu. Hiện trường đã bị thay đổi một phần do sau khi xảy ra tai nạn, người điều khiển phương tiện xe ô tô biển số 85H – 013.33 đã đưa nạn nhân đi cấp cứu; trên đường có nhiều phương tiện khác lưu thông qua lại.

Đường T có bề rộng 14,04m, giữa đường có dải phân cách cứng bằng bê tông rộng 01m, chia làm hai phần đường hướng xe lưu thông ngược chiều nhau là chiều đường từ phường P đi phường M (từ hướng Tây qua hướng Đông) và chiều đường từ phường M đi phường P (từ hướng Đông qua hướng Tây), mỗi phần đường có bề rộng là 6,52m, hai bên lề đường có rãnh thoát nước rộng 50cm. Khoảng cách từ đầu dải phân cách hướng Tây đến đầu dải phân cách hướng Đông là 43,6m, ở chiều đường từ phường P đi phường Đ trên lề đường có đặt biển báo hiệu “Đường người đi bộ sang ngang”.

Đường L được trải nhựa bằng phẳng (nằm ở hướng N) có bề rộng 6,1m; đường C được trải nhựa bằng phẳng (nằm ở hướng Bắc) có bề rộng 6,1m. Trên lề đường bên phải, chiều hướng từ đường C đi Lưu Hữu P (từ hướng Bắc qua hướng Nam), có đặt biển báo hiệu “Đường không ưu tiên giao nhau với đường ưu tiên” và biển báo hiệu “Đường người đi bộ sang ngang”. Tai nạn giao thông tập trung trên đường T, chiều hướng từ phường P đi phường Đ.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo chiều hướng từ Tây qua Đông; đồng thời tạo một đường thẳng từ vạch sơn trắng bên phải lề đường Trần Nhân T2 hướng Tây qua lề đường hướng Đông để làm chuẩn và đo số liệu; lấy đầu dải phân cách hướng Tây và đầu dải phân cách hướng Đông làm mốc để chốt hiện trường. Quá trình khám nghiệm đã phát hiện, ghi nhận và thu thập các dấu vết, phương tiện để lại tại hiện trường như sau:

- Vị trí số 01: Xe ô tô biển số 85H – 013.33. Đầu xe hướng Đông, đuôi xe hướng Tây. T3 trục bánh trước bên phải (bên phụ) cách lề chuẩn 4,36m; tâm trục bánh sau bên phải (bên phụ) cách lề chuẩn 4,27m và cách đầu dải phân cách hướng Tây là 18,85m.

- Vị trí số 02: Vùng vết cày bong tróc trên đường nhựa, không liên tục, chiều hướng từ Tây qua Đ dài 18,75m. Điểm cuối của vết cày dừng lại ở rãnh thoát nước, chỗ rộng nhất của vùng vết cày là 1,2m. Đầu vết cày cách lề chuẩn 4,72m; cuối vết cày cách lề chuẩn về hướng Bắc 60cm và cách đầu dải phân cách hướng Đông là 08m.

- Vị trí số 03: Vùng máu chảy, nhỏ giọt trên diện (70 x 80)cm. T3 vùng cách lề chuẩn 2,9m và cách đầu vết cày vị trí số 02 là 7,9m.

- Vị trí số 04: Xe mô tô biển số 59M1 – 526.80 ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng Đông, đuôi xe hướng Tây. T3 trục bánh trước cách lề chuẩn 40cm và cách cuối vết cày vị trí số 02 là 70cm; tâm trục bánh sau nằm trên lề chuẩn.

Ngoài ra, trên mặt đường từ vị trí số 01 đến vị trí số 04, rải rác nhiều mảnh vở nhựa màu trắng (đèn xe). Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám phương tiện, Cơ quan điều tra xác định: Phần đầu bên phải xe ô tô biển số 85H – 013.33 đã va chạm vào phần hông đầu xe bên phải của xe mô tô biển số 59M1 – 526.80, chiều hướng va chạm từ Tây sang Đ (từ bên phải qua trái theo chiều lưu thông của xe mô tô). Tại Bản kết luận giám định tử thi số 120/KLGĐTT-TTGĐYK-PY ngày 22/11/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N đối với tử thi Nguyễn Văn H, như sau:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám nghiệm: Đa chấn thương phần mềm cơ thể.

- Kết quả khác: Nghiên cứu hồ sơ bệnh án, tụ máu dưới màng cứng bán cầu não hai bên. Xuất huyết khoang dưới nhện len lõi rãnh cuộn não, các bể trên và dưới lều, xuất huyết não thất IV. Xuất huyết liềm đại não, lều tiểu não. Tụ khí nội sọ. Dãn khớp sọ, nứt sọ thái dương – chẩm trái + nứt sọ trán trái. Tụ máu xoang sàng, xoang bướm hai bên, xoang hàm trái.

2. Kết luận:

- Kết luận nguyên nhân chết: Vì gia đình không cho khám nghiệm bên trong, với kết quả khám bên ngoài kết hợp với hồ sơ bệnh án nhận định nạn nhân chết do tụ máu dưới màng cứng bán cầu não hai bên, xuất huyết khoang dưới nhện len lõi rãnh cuộn não, các bể trên và dưới lều, xuất huyết não thất IV, xuất huyết liềm đại não, lều tiểu não, tụ khí nội sọ, dãn khớp sọ, nứt sọ thái dương – chẩm trái + nứt sọ trán trái, tụ máu xoang sàng, xoang bướm hai bên, xoang hàm trái điều trị không hồi phục.

Tại Bản Kết luận giám định số 291/KL-KTHS ngày 15/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N về việc trích xuất dữ liệu tốc độ xe ô tô biển số 85H – 013.33 trong khoảng thời gian từ 22 giờ 30 phút đến 23 giờ 30 phút ngày 05/11/2024, xác định: Thời điểm 23 giờ 06 phút 20 giây, tốc độ là 44 Km/h; đến 23 giờ 06 phút 22 giây, tốc độ là 50 Km/h; sau đó giảm xuống 43 Km/h (thời điểm 23 giờ 06 phút 23 giây), rồi giảm đột ngột xuống còn 17 Km/h (thời điểm 23 giờ 06 phút 24 giây) và còn 00 Km/h (từ thời điểm 23 giờ 06 phút 25 giây đến 23 giờ 13 phút 11 giây).

Kết quả đo nồng độ cồn và kiểm tra chất ma tuý đối với Nguyễn Tiến D là không có nồng độ cồn và âm tính với chất ma túy.

Kết quả đo nồng độ cồn đối với Nguyễn Văn H là 0,756 mg/1 lít khí thở; kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N là 3,5634 g/l (tức là, 356,34 mg/100ml máu). Do H bị bất tỉnh nên Cơ quan điều tra không lấy được mẫu nước tiểu để xét nghiệm chất ma tuý.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Tiến D có giấy phép lái xe hạng C; Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe mô tô hạng A1.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, hay khiếu nại về các Kết luận giám định, kết quả đo nồng độ cồn nêu trên.

Bản cáo trạng số 92/CT-VKSKV5 ngày 09/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà truy tố bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Nguyễn Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D mức án từ 12 đến 15 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị can Nguyễn Tiến D và đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Đ, đã tự nguyện bồi thường cho đại diện bị hại tổng số tiền 170.000.000 đồng. Đại diện bị hại là bà Võ Thụy Phương T1 (vợ bị hại H) không yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự và tự nguyện xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp; Kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được tiếp tục lao động, phụ giúp cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, các đoạn video quay lại vụ tai nạn và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Tiến D có giấy phép lái xe ô tô hạng C, lái xe taxi cho Công ty TNHH Đ. Địa chỉ tại: Số E Đ, phường P, tỉnh khánh Hòa. Khoảng 23 giờ 05 phút ngày 05/11/2024, D điều khiển xe ô tô taxi biển số 85H – 013.33 chở khách lưu thông trên đường T (là đường ưu tiên), hướng từ phường P đi phường Đ (trước là phường P đi phường M). Khi đến khu vực ngã tư giao nhau đường T - L - C, thuộc phường P do không giảm tốc độ xe đến mức an toàn và thiếu chú ý quan sát nên đã tung vào xe mô tô biển số 59M1 – 526.80 do Nguyễn Văn H điều khiển lưu thông theo hướng từ đường C ra đường T, gây tai nạn, làm H bị thương tích nặng và tử vong lúc 15 giờ ngày 06/11/2024. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến D đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, gây ra hậu quả chết 01 người. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 Khánh Hoà truy tố bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, trong vụ án này nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông có một phần lỗi từ người bị hại Nguyễn Văn H. Khi điều khiển xe mô tô bị hại H đã sử dụng rượu, bia (nồng độ cồn trong máu là 356,34 mg/100ml máu) vào nơi đường giao nhau nhưng không chú ý quan sát, không nhường đường cho phương tiện lưu thông trên đường ưu tiên, không giảm tốc độ đến mức an toàn nên đã va chạm với xe ô tô do bị cáo Nguyễn Tiến D điều khiển. Hành vi của bị hại Nguyễn Văn H đã vi phạm khoản 8, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của ông H, gây tổn thất về tinh thần cho gia đình người bị hại.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại; Người bị hại cũng có một phần lỗi, đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.

Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng đủ điều kiện để hưởng án treo nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp pháp luật, thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị can Nguyễn Tiến D và đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Đ, đã tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại tổng số tiền 170.000.000 đồng. Đại diện bị hại là bà Võ Thụy Phương T1 (vợ bị hại H) không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự và tự nguyện xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D.

Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu vàng đen bạc, biển số 59M1 – 526.80 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Võ Thụy Phương T1 (là vợ của bị hại Nguyễn Văn H) là có căn cứ.

- 01 xe ô tô biển số 85H – 013.33; 01 thiết bị giám sát hành trình màu đen; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 15-10/TXM-24; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 85H – 013.33; 01 giấy biên nhận thế chấp số 128/BN24; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Quốc D1, là đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Đ1 có căn cứ.

- 01 giấy phép lái xe hạng C của Nguyễn Tiến D, Hội đồng xét xử xét tuyên trả lại cho bị cáo sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.

- 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà, ý kiến của kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến D 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/8/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Thanh Hoá để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến D 01 giấy phép lái ô tô hạng C số 010151093174 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 27/8/2024.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/8/2025. Đại diện hợp pháp người bị hại bà Võ Thụy Phương T1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

Cỡ chữ