- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày: 24/04/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trần Anh Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Thắm và bà Dương Thị Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thơm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/04/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST - HS ngày 10/04/2025 đối với bị cáo:
Lê Xuân T, sinh năm 1989 tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú và cư trú trước khi bị bắt, tạm giữ, tạm giam: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn: Không; con ông Lê Anh D và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Dương Thị Hồng Th và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Đặc điểm nhân thân:
- Ngày 30/7/2018, bị TAND huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 07/9/2019 chấp hành xong án phạt tù và các quyết định khác của Bản án.
- Ngày 18/6/2021, bị TAND huyện T, tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 11/3/2022 chấp hành xong án phạt tù và các quyết định khác của bản án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025, chuyển tạm giam từ ngày 14/02/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/02/2025, bị cáo Lê Xuân T đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến khu vực huyện Y, tỉnh Nam Định để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đi qua cầu V thuộc huyện Y, tỉnh Nam Định thì T xuống xe còn người đàn ông cũng điều khiển xe rời đi. T đi bộ một đoạn thì gặp và mua của một người đàn ông không quen biết đang đứng ở lề đường 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy, T cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ quay về. Đi được một đoạn thì T xin đi nhờ xe của một người đàn ông. Khi đi đến địa bàn thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Hà Nam, T xuống xe tìm địa điểm sử dụng ma túy, còn người đàn ông đó cũng rời đi. Vào khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ thì bị Tổ công tác Công an huyện B phối hợp Công an xã L yêu cầu kiểm tra. T đã tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 (một) gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục đang cầm trong lòng bàn tay trái và khai nhận đó là gói ma tuý Heroine của T vừa đi mua về cất giữ để sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng liên quan.
Khi bắt quả tang đã thu giữ của Lê Xuân T 01 (một) gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục do Lê Xuân T giao nộp được bỏ vào bên trong phong bì niêm phong ký hiệu “QT”.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Xuân T tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 429/KL-KTHS ngày 12/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,213g (Không phẩy hai trăm mười ba gam), loại: Heroine.
Tại Cáo trạng số 33/CT - VKS - MT ngày 08/04/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố Lê Xuân T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy cùng bao gói mẫu vật còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng như nội dung vụ án đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện B; Viện kiểm sát nhân dân huyện B và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng.
Về tội danh: Hành vi tàng trữ 0,213 gam ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng bị Lực lượng Công an bắt quả tang vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 11/02/2025, tại đoạn đường nhựa thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Hà Nam của bị cáo Lê Xuân T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội T khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu do vậy Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ cũng như hoàn cảnh gia đình của bị cáo để quyết định mức hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, xét bị cáo không có tài sản và hành vi phạm tội của bị cáo không có tính chất vụ lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Xét số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Các tình tiết khác liên quan đến vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy không có đủ chứng cứ để xác định làm rõ đối tượng bán ma túy cho bị cáo và nguồn gốc ma túy.
- Đối với những người cho bị cáo đi nhờ xe mô tô, bị cáo khai không nhớ đặc điểm, loại xe, biển kiểm soát. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu chứng cứ nào khác để xác minh làm rõ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 11/02/2025).
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong có số 429/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Vật chứng được xác định theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/04/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Xuân T phải nộp 200.000 đồng.
Án xử công khai; báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ Giám đốc kiểm tra I); - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hà Nam - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã T, huyện T; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ và văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Trần Anh Dũng (đã ký) |