vanban.org

Bản án 31/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lục Thị G và anh Hoàng Văn Đ.

Về con chung: Giao con chung Hoàng Gia A, sinh ngày 23/8/2021 cho chị Lục Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Hoàng Gia P, sinh ngày 24/9/2016 cho anh Hoàng Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Lục Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vi Thị Thêm yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Làng Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lục Thị G và anh Hoàng Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________________
Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25- 6 - 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Sầm Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Trọng Trung và bà Vũ Thị Hồng Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Mới - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Làng Văn Q, sinh năm 1988.

Địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai.

Nơi đăng ký tạm trú: Thôn Đ, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 5 năm 2025; biên bản lấy lời khai ngày 03 tháng 6 năm 2025; quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Làng Văn Q tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 02/2009. Ngày 30/12/2009 anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống ở thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, quan điểm làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cái nên vợ chồng hay xảy ra cãi chửi nhau cùng nhiều mâu thuẫn khác trong đời sống chung không thể giải quyết được. Mâu thuẫn trầm trọng nhất vào cuối năm 2014, anh chị tiếp tục cãi nhau, sau đó anh Q thường xuyên đi làm ăn xa, rất ít khi về nhà. Thực tế từ cuối năm 2014 đến nay anh chị sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả gì. Chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Làng Văn Q.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị T và anh Q có 01 người con chung là cháu Làng Đức T1, sinh ngày 13/11/2009. Khi ly hôn, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T1 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về điều kiện nuôi con khi ly hôn: Chị T là lao động tự do ở địa phương, công việc chính là trồng trọt, chăn nuôi và đi làm thuê; thu nhập trung bình của chị được 5.000.000 đồng/tháng; tại địa phương mức nuôi dưỡng cháu Làng Đ là 1.000.000 đồng/tháng nên chị T đủ điều kiện nuôi con.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Quá trình chung sống, chị T và anh Q không có tài sản chung, không vay nợ ai, không cho ai vay nợ gì nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp.

2. Ý kiến của bị đơn: Tại đơn đề nghị ngày 05/6/2025, bị đơn anh Làng Văn Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Q xác nhận đơn khởi kiện của chị Vi Thị T trình bày về quan hệ hôn nhân của anh Q và chị T là đúng. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Q thì anh Q hoàn toàn đồng ý ly hôn với chị T. Vì thực tế anh chị đã sống ly thân quá lâu từ cuối năm 2014 đến nay, đến nay anh chị đều có cuộc sống riêng của mình, không liên quan tình cảm, kinh tế gì đến nhau nữa. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, giải quyết cho anh Q và chị T được ly hôn với nhau để ổn định cuộc sống của cả hai người.

- Về con chung: Anh Q xác nhận, quá trình chung sống, anh và chị Vi Thị T có 01 người con chung là cháu Làng Đức T1, sinh ngày 13/11/2009 là hoàn toàn đúng. Anh Q đồng ý để chị T nuôi cháu T1 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Q và chị T đã sống ly thân hơn 10 năm, suốt hơn 10 năm qua cháu T1 do chị T nuôi dưỡng nên anh Q đồng ý để chị T nuôi con. Về công việc, thu nhập của chị T đã trình bày với Tòa án là đúng.

- Về tài sản và công nợ chung: Anh Q và chị T không có tài sản chung, không nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Ý kiến của con chưa thành niên: Cháu Làng Đ có nguyện vọng ở với với mẹ khi bố mẹ cháu ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, chị T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được về quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng con chung theo quy định của pháp luật.

4. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể: Thẩm quyền thụ lý vụ án, mối quan hệ tranh chấp đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68; xác minh, thu thập chứng cứ, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97. Trình tự thụ lý, giao nhận thông báo thụ lý cho đương sự và cho Viện kiểm sát đúng quy định tại Điều 195, 196. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71,72 BLTTDS.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị T được ly hôn với anh Làng Văn Q.

- Về con chung: Chị Vi Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Làng Đức T1, sinh ngày 13/11/2009 đến khi cháu L đức T1 trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Làng Văn Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Tuyên án phí và quyền kháng cáo tuyên theo quy định.

Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá, nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Vi Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với anh Làng Văn Q có địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Nơi đăng ký tạm trú: Thôn Đ, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn. Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hợp lệ. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 227; Khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị T và anh Làng Văn Q là hợp pháp. Chị T và anh Q tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 02/2009. Ngày 30/12/2009 anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn với nhau, anh chị chung sống ở thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, quan điểm làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cái nên vợ chồng hay xảy ra cãi chửi nhau cùng nhiều mâu thuẫn khác trong đời sống chung không thể giải quyết được. Mâu thuẫn trầm trọng nhất vào cuối năm 2014, anh chị tiếp tục cãi nhau, sau đó anh Q thường xuyên đi làm ăn xa, rất ít khi về nhà. Thực tế từ cuối năm 2014 đến nay anh chị sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả gì. Chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Làng Văn Q. Anh Q đồng ý ly hôn với chị T vì thực tế anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2014 đến nay, nay anh chị đều có cuộc sống riêng của mình, không liên quan tình cảm, kinh tế gì đến nhau nữa. Anh Q đề nghị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, giải quyết cho anh Q và chị T được ly hôn với nhau để ổn định cuộc sống của cả hai người. Do anh Q vắng mặt tại phiên hòa giải, phiên tòa nên Hội đồng xét xử cần căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Vi Thị T được ly hôn với anh Làng Văn Q là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị T và anh Q đều xác nhận, quá trình chung sống, anh chị có một người con chung là cháu Làng Đức T1, sinh ngày 13/11/2009. Từ năm 2014, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q đến nay. Khi ly hôn, chị T và anh Q đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T1 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị T và anh Q đều không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị T và anh Q đều xác nhận, chị T là lao động tự do ở địa phương, công việc chính là trồng trọt, chăn nuôi và đi làm thuê; thu nhập trung bình được 5.000.000 đồng/tháng; tại địa phương mức nuôi dưỡng cháu Làng Đ là 1.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, do anh Q vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Làng Đức T1 cho chị Vi Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị Vi Thị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vi Thị T và anh Làng Văn Q. Quan hệ hôn nhân của chị Vi Thị T và anh Làng Văn Q chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao con chung cháu cháu Làng Đức T1, sinh ngày 13/11/2009 cho chị Vi Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Làng Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004285 ngày 03/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Chị Vi Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Lào Cai;

- VKSND huyện V (2);

- CCTHADS huyện V;

(Đã gửi)

- UBND xã K,

huyện V, tỉnh Lào Cai;

- Lưu: HS, THS (3).

Sầm Thị Tươi

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sầm Thị Tươi

1. Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Hoàng Văn Đ tự nguyện về chung

sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 2015, không đăng ký kết hôn. Đến

ngày 03/11/2016, chúng tôi mới đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân

xã H, huyện V, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống hòa thuận,

hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân

chính dẫn đến mâu thuẫn là do chúng tôi không cùng quan điểm sống, mỗi

người một suy nghĩ khác nhau, quá trình chung sống với nhau chúng tôi mới

biết chúng tôi có quá nhiều sự khác biệt nên chúng tôi không thông cảm được

với nhau trong cuộc sống, chúng tôi không có tiếng nói chung hàng ngày. Cuộc

sống vợ chồng cứ thế mà nhạt dần, chung sống không có hạnh phúc. Mâu thuẫn

vợ chồng tôi trầm trọng vào cuối năm 2024 chúng tôi đã cãi chửi nhau nên

không chung sống với nhau nữa. Từ cuối năm 2024 đến nay vợ chồng tôi sống

ly thân, không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng

không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đíc hôn nhân không đạt

được, nếu cứ tiếp tục thì sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi nên tôi yêu cầu

Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ.

2. Về con chung: Trong thời gian chung sống chúng tôi có 02 người con

chung là cháu Hoàng Gia P, sinh ngày 24/9/2016 và cháu Hoàng Gia A, sinh

ngày 23/8/2021. Hiện nay cháu P đang ở cùng với anh Đ, cháu A đang ở cùng

với tôi. Khi ly hôn, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được trực tiếp trông

nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hoàng Gia A; giải quyết cho anh

Hoàng Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Gia P

cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp

dưỡng nuôi con chung.

Về điều kiện nuôi con khi ly hôn: Tôi nghề nghiệp là tự do, trồng trọt

chăn nuôi tại gia đình và đi làm thuê, thu nhập được 5.000.000 đồng/tháng;

mức nuôi dưỡng con chung của chúng tôi là 1.000.000 đồng/tháng nên tôi đủ

điều kiện nuôi con.

3. Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng tôi không có tài sản chung;

không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì nên tôi không yêu cầu Tòa án

giải quyết.

2. Đối với bị đơn anh Lù Văn S: Tại biên bản lấy lời khai ngày 16 tháng 01 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lù Văn S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lù Văn S và chị Phần Thị C tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2013, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Ngày 29/7/2014 anh chị mới đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và làm ăn kinh tế; từ đó vợ chồng không yêu thương nhau, sống không hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên tháng 12/2018 anh chị đã đi làm thuê mỗi người ở một nơi; chỉ thỉnh thoảng quan tâm đến nhau; khoảng 1 năm nay vợ chồng không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh S thì anh S không đồng ý ly hôn vì hai con chung còn nhỏ nên anh S muốn chị C tiếp tục về chung sống với anh S để cùng anh S nuôi con.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh S và chị C có hai người con chung là cháu Lù Văn Q1, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lù Thị N, sinh ngày 27/01/2016. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay thì cả hai cháu ở cùng với anh S. Nếu chị C kiên quyết ly hôn với anh S thì anh S yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Q1 và cháu N cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Tại Biên bản ghi ý kiến của con chưa thành niên là cháu Lù Văn Q1 trình bày: Nay bố mẹ ly hôn thì cháu Q1 có nguyện vọng được ở với bố để bố trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu.

Đối với vụ án này, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau về quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng con chung khi ly hôn.

4. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

4.1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền thụ lý đúng quy định tại các điều 28, 35, 39; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68; xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định tại các từ điều Điều 93 đến Điều 97. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203, 233.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

4.2. Ý kiến về việc giải quyết vụ việc: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56; khoản 1,2 Điều 81; khoản 1,3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xét xử theo hướng:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Phần Thị C được ly hôn với anh Lù Văn S.

- Về con chung: Giao các cháu Lù Văn Q1, Lù Thị N cho anh Lù Văn S trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị C không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

4.3. Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá, nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Phần Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với anh Lù Văn S có địa chỉ nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hợp lệ, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh S là hợp pháp. Anh chị tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2013, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng đến ngày 29/7/2014 anh chị đã đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống tình cảm và làm ăn kinh tế do chị C phải ở nhà chăm sóc các con nhỏ còn anh S đi Trung Quốc làm thuê từ tháng 02/2018 đến tháng 08/2018 thì anh S về nhà; khi về nhà anh S cho rằng chị C không biết kiếm tiền mà chỉ biết tiêu tiền do anh S kiếm được nên dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau, thỉnh thoảng anh S đánh và đuổi chị C ra khỏi nhà. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 12/2018 đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được chị C, anh S trình bày và chính quyền địa phương xác nhận (Bút lục 40). Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.Vì vậy việc chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Về nuôi con khi ly hôn: Quá trình chung sống chị Phần Thị C và anh Lù Văn S có hai người con chung là cháu Lù Văn Q1, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lù Thị N, sinh ngày 27/01/2016. Từ khi anh chị sống ly thân tháng 12/2018 đến nay thì cả hai cháu ở cùng với anh S. Thu nhập của chị C một tháng trung bình được 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) nhưng chị đang sống nhờ nhà bố mẹ đẻ, không có tài sản gì khác ngoài thu nhập hàng tháng; thu nhập của anh S một tháng trung bình được 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng); anh S có nhà cửa để ở, có đất đai để canh tác; các cháu thì đã ở ổn định, lâu dài với anh S và cháu Q1 có nguyện vọng được ở với bố; tại địa phương mức nuôi dưỡng cháu Q1 và cháu N một tháng là 1.200.000 đồng ( Một triệu hai trăm nghìn đồng) /1 cháu; các cháu đi học được nhà nước hỗ trợ. Về thu nhập, điều kiện nuôi con đã được chị C; anh S xác nhận và cũng đã được địa phương xác nhận (Bút lục 38, 40). Nay chị C và anh S đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Q1 và cháu N cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị C, anh S đều không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung phù hợp với khoản 1,2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 1,3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị C và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị Phần Thị C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lục Thị G và anh Hoàng Văn Đ. Quan hệ hôn nhân của chị Lục Thị G và anh Hoàng Văn Đ chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Gia A, sinh ngày 23/8/2021 cho chị Lục Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Hoàng Gia P, sinh ngày 24/9/2016 cho anh Hoàng Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Lục Thị G và anh Hoàng Văn Đ không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị P1.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sầm Thị Tươi

Cỡ chữ