- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VẠN THỊ THANH KIM HUỆ - LÊ TRỌNG ANH"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vạn Thị Thanh Kim H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2025/HNGĐ - ST Ngày: 27/8/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Cơ.
- Ông Thạch Dương Nhanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Bửu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài, Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 121/2025/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 06 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 37/QĐST- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vạn Thị Thanh Kim H, sinh ngày 10/12/1989;
Địa chỉ: B M, phường N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ hiện nay: Số C đường số I, phường T, thành phố Cần Thơ
- Bị đơn Ông Lê Trọng A, sinh năm 1986.
Địa chỉ: ấp H, xã H, thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 14/05/2025, chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn bà Vạn Thị Thanh Kim H trình bày: Bà Vạn Thị Thanh Kim H và ông Lê Trọng A có tổ chức tiệc cưới năm 2013 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 09/09/2013, số giấy chứng nhận kết hôn: 63. Trong thời gian đầu cuộc sống gia đình rất hạnh phúc. Tuy nhiên, đến khoảng cuối năm 2024 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không còn hợp nhau và không có tiếng nói chung từ đó đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2024 cho đến nay. Trong quá trình chung sống bà Vạn Thị Thanh Kim H và ông Lê Trọng A có 02 người con chung tên: Lê Trọng N, sinh ngày 18/10/2014 và Lê Thiện N1, sinh ngày 05/3/2021 hiện nay các con đang sống cùng bà Vạn Thị Thanh Kim H. Nhận thấy trong thời gian chung sống với nhau giữa bà Vạn Thị Thanh Kim H và ông Lê Trọng A phát sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và sống ly thân. Bà Vạn Thị Thanh Kim H xác định vợ chồng không còn tình cảm, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Trọng A.
Về con chung: Bà Vạn Thị Thanh Kim H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung 02 người con chung tên: Lê Trọng N, sinh ngày 18/10/2014 và Lê Thiện N1, sinh ngày 05/3/2021 đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Lê Trọng A phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Lê Trọng A: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông Lê Trọng A theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông Lê Trọng A không liên lạc với Tòa án, không gửi ý kiến bằng văn bản cho Toà án biết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng không đến Toà án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Kể từ khi thụ lý đến thời điểm nghị án, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự khi tham gia tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Vạn Thị Thanh Kim H được ly hôn với ông Lê Trọng A. Về con chung: giao cho bà Vạn Thị Thanh Kim H được trực tiếp nuôi 02 người con chung tên: Lê Trọng N, sinh ngày 18/10/2014 và Lê Thiện N1, sinh ngày 05/3/2021, ông Lê Trọng A không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét. Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của nguyên đơn Vạn Thị Thanh Kim H. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này, bà Vạn Thị Thanh Kim H yêu cầu ly hôn với ông Lê Trọng A. Quan hệ pháp luật nêu trên được điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Vạn Thị Thanh Kim H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 09/09/2013 cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của nguyên đơn Vạn Thị Thanh Kim H có kết hôn với bị đơn Lê Trọng A là sự thật, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Vì vậy, giữa bà Vạn Thị Thanh Kim H và ông Lê Trọng A đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó thì bất đồng quan điểm thường xuyên cải vã làm cho tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến bà Vạn Thị Thanh Kim H và ông Lê Trọng A không còn tiếp tục sống chung với nhau từ năm 2024.
Nguyên đơn kiên quyết yêu cầu ly hôn vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Xét thấy, trong quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, hiện không còn sống chung với nhau, cuộc sống vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình là đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó chứng tỏ rằng tình yêu giữa vợ chồng không còn nữa, mặc dù đang tồn tại quan hệ hôn nhân nhưng giữa bà Vạn Thị Thanh Kim H và ông Lê Trọng A không còn tình nghĩa vợ chồng. Những biểu hiện trên cho thấy, nguyên đơn và bị đơn không thể sống chung để cùng nhau xây dựng được gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn Vạn Thị Thanh Kim H và bị đơn Lê Trọng A thật sự trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Từ những phân tích nhận định như trên, xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Vạn Thị Thanh Kim H đối với bị đơn Lê Trọng A là có cơ sở chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết cho bà Vạn Thị Thanh Kim H được ly hôn với ông Lê Trọng A.
Về con chung: Bà Vạn Thị Thanh Kim H và ông Lê Trọng A có 02 người con chung tên: Lê Trọng N, sinh ngày 18/10/2014 và Lê Thiện N1, sinh ngày 05/3/2021 hiện tại cháu đang sống chung với bà Vạn Thị Thanh Kim H. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại đơn khởi kiện bà Vanh Thị Thanh Kim H1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy con tên Lê Trọng N đến thời điểm xét xử đã trên 7 tuổi nên có quyền thể hiện nguyện vọng của mình được sống với cha hoặc mẹ khi cha mẹ ly hôn cháu Lê Thiện N1 hiện tại sống chung với bà Vạn Thị Thanh Kim H được bà chăm sóc đảm bảo cuộc sống của các cháu vẫn đảm bảo ổn định phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần. Căn cứ vào lời khai của Lê Trọng N, thì cháu Lê Trọng N có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Vạn Thị Thanh Kim H. Nhận thấy nguyện vọng của cháu Lê Trọng N được thể hiện một cách tự nguyện không ai ép buộc, bà Vạn Thị Thanh Kim H đảm bảo được cuộc sống của cháu Lê Thiện N1 vẫn ổn định phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án bà Vạn Thị Thanh Kim H cũng có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, còn ông Lê Trọng A không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo cho cuộc sống của cháu Lê Trọng N, và Lê Thiện N1 được ổn định, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình để giao Lê Trọng N và Lê Thiện N1 cho bà Vạn Thị Thanh Kim H được tiếp tục nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà Vạn Thị Thanh Kim H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Vạn Thị Thanh Kim H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ đã nêu là có căn cứ phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát đã nêu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm c Khoản 1 Điều 92, Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Khoản 2 Điều 81, Khoản 1, Khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a Khoản 5, điểm an Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vạn Thị Thanh Kim H.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Vạn Thị Thanh Kim H được ly hôn với ông Lê Trọng A.
2/ Về con chung: Giao cho bà Vạn Thị Thanh Kim H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung là cháu Lê Trọng N, sinh ngày 18/10/2014 và Lê Thiện N1, sinh ngày 05/3/2021. Trong thời gian bà Vạn Thị Thanh Kim H nuôi con, không ai có quyền cản trở sự thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn Vạn Thị Thanh Kim H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3/ Về tài sản chung và nợ chung: Bà Vạn Thị Thanh Kim H và ông Lê Trọng A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nguyên đơn Vạn Thị Thanh Kim H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001736 ngày 03/06/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Cần Thơ), bà Vạn Thị Thanh Kim H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
| Nơi nhận - VKS khu vực 8 - Cần Thơ; - Các đương sự; - TAND tp Cần Thơ; - Phòng THA.DS khu vực 8 - Cần Thơ; - UBND xã Hoà Tú; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toàn |