- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị H và anh K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST Ngày 10-6-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về |
nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Chính
Ông Lã Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Hữu Hảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh T - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Ngọc H, sinh năm 1989; nơi thường trú: Đường N, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Dương Vĩnh K, sinh năm 1991; nơi thường trú: Đường H, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; hiện thi hành án tại trại giam T, tỉnh Thanh Hoá; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 23 tháng 01 năm 2025 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn là chị Đỗ Thị Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2022, chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Dương Vĩnh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn ngày 28/7/2022 tại Ủy ban nhân dân phường Hạ Lý (nay là phường Thượng Lý), quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống đến tháng 12 năm 2022 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Đến năm 2023, anh K vi phạm pháp luật và bị xử phạt 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hiện đang chấp hành án tại Trại giam T, tỉnh Thanh Hoá. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị H và anh K có 01 con chung là Dương Thuỳ T, sinh ngày 03/3/2023. Chị H đề nghị Tòa án giao con cho chị trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về việc chia tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, bị đơn là anh Dương Vĩnh K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hạ Lý (nay là phường Thượng Lý), quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh vi phạm pháp luật và bị Toà án kết án hai năm tù. Nay chị H có đơn xin ly hôn, bản thân anh cũng thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn.
Về việc nuôi con: Anh K và chị H có 01 con chung là Dương Thuỳ T, sinh ngày 03/3/2023. Anh K đồng ý giao con cho chị H trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về việc chia tài sản: Anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn chị Đỗ Thị Ngọc H và bị đơn anh Dương Vĩnh K đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
* Tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị H, nội dung vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện; công bố lời khai của anh K, quan điểm đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị H.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đỗ Thị Ngọc H được ly hôn anh Dương Vĩnh K. Về việc nuôi con: Giao con là Dương Thuỳ T, sinh ngày 03/3/2023 cho chị Đỗ Thị Ngọc H trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh K không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về việc chia tài sản: Chị H và anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
[1] Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Dương Vĩnh K có nơi cư trú trên địa bàn quận Kiến An, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:
[2] Nguyên đơn chị Đỗ Thị Ngọc H và bị đơn anh Dương Vĩnh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là bảo đảm đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân:
[3] Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Dương Vĩnh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh K đã vi phạm pháp luật và phải thi hành hình phạt 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân của chị H và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, anh K cũng đồng ý ly hôn. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
+ Về việc nuôi con:
[4] Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Dương Vĩnh K có 01 con chung là Dương Thuỳ T, sinh ngày 03/3/2023. Cháu T hiện dưới 36 tháng tuổi; chị H và anh K thống nhất giao con cho chị H trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H và anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét yêu cầu của chị H phù hợp với quy định tại các điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
+ Về việc chia tài sản:
[5] Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Dương Vĩnh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[6] Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Đỗ Thị Ngọc H phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
[7] Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Dương Vĩnh K được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Ngọc H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Ngọc H được ly hôn anh Dương Vĩnh K.
- Về việc nuôi con: Giao con là Dương Thuỳ T, sinh ngày 03/3/2023 cho chị Đỗ Thị Ngọc H trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Dương Vĩnh K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về việc chia tài sản: Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Dương Vĩnh K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Chị Đỗ Thị Ngọc H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005020 ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Chị Đỗ Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Nguyên đơn chị Đỗ Thị Ngọc H và bị đơn anh Dương Vĩnh K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Kiến An; - Chi cục THADS quận Kiến An; - Đương sự; - UBND phường Hạ Lý (nay là phường Thượng Lý), quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 28/7/2022); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hảo |