- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Đặng Thị Xuân H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 108 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08/9/2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17- LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Trọng Kim
2. Ông Lê Hoàng Phúc
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Thảo Chi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 -Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17- Lâm Đồng tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17-Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 04/2025/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 7 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Xuân H, sinh năm: 1991
Nơi cư trú: Tổ 1, thôn Đức Tín 6, xã Hoài Đức tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ liên hệ: Số 187, thôn Đức Hạnh 3, xã Hoài Đức, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Anh Bùi Tấn Dương T, sinh năm: 1989
Nơi cư trú: Số 30, đường Bùi Mỹ, tổ 1, thôn Đức Tín 6, xã Hoài Đức, tỉnh Lâm Đồng.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 29/5/2025, biên bản tự khai và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Đặng Thị Xuân H trình bày: Vào năm 2016, chị và anh Bùi Tấn Dương T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đức Tín, giấy chứng nhận kết hôn số 97/2016, ngày 24/10/2016. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T thường xuyên chơi cờ bạc làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, anh T đi chơi thâu đêm, không có trách nhiệm với vợ con, mặc dù chị và gia đình hai bên đã khuyên bảo nhưng anh T không thay đổi. Anh chị đã ly thân từ năm 2024 đến nay, mỗi người sống mỗi nơi, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T, do đó chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn.
- Về con chung: có 01 con chung tên Bùi Tấn Anh T1, sinh ngày 15/11/2017. Từ khi ly thân đến nay con (T1) ở với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con. Chị yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi con tròn đủ 18 tuổi.
-Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/8/2025, bị đơn anh Bùi Tấn Dương T trình bày:
- Về hôn nhân: Anh thống nhất với chị Đặng Thị Xuân H về thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với gia đình anh được khoảng 01 năm thì thuê nhà ra ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng có cãi vã, lời qua tiếng lại nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ. Theo anh nguyên nhân chính dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt là do chị H không có nghề nghiệp, anh làm tài xế lương không ổn định, ngày làm ngày nghỉ, ngày nghỉ thì không có lương. Kinh tế trong gia đình khó khăn khiến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh và chị H đã ly thân, mỗi người sống mỗi nơi không còn quan tâm đến nhau. Nay chị H nộp đơn ly hôn thì anh đồng ý.
-Về con chung: anh chị có 01 con chung tên Bùi Tấn Anh T1, sinh ngày 15/11/2017. Khi ly hôn anh đồng ý giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con tròn đủ 18 tuổi.
-Về tài sản chung, nợ chung: anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, lập và gửi các văn bản đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự luật định. Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng. Vì vậy HĐXX, xét xử vắng mặt các đương sự là đúng pháp luật.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H; đồng thời giao con Bùi Tấn Anh T1, sinh ngày 15/11/2017 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh Bùi Tấn Dương T phải cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi là có căn cứ và đúng pháp luật.
+ Về tài sản chung, nợ chung: anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 29/5/2025 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17, tỉnh Lâm đồng theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực 17 - Lâm đồng thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.
Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Đặng Thị Xuân H và anh Bùi Tấn Dương T có đăng ký kết hôn vào ngày 24/10/2016 tại UBND xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Hoài Đức, tỉnh Lâm Đồng). Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh.
Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ vấn đề tài chính trong gia đình. Hiện nay, chị H và anh T đã ly thân, mỗi người sống mỗi nơi, không còn quan tâm nhau. Thấy rằng, lời khai của anh chị là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ nhưng không thành, cho thấy “hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Nay chị H xác định không còn tình cảm với anh T nữa và cương quyết ly hôn. Tất cả các điều đó cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và con. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là đúng theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao.
Về con chung: Xét thấy con Bùi Tấn Anh T1, sinh ngày 15/11/2017 hiện đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng ở với mẹ; chị H là người có đạo đức tốt, có việc làm và thu nhập ổn định. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, anh T cũng thống nhất theo đề nghị của chị H. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao con: Bùi Tấn Anh T1, sinh ngày 15/11/2017 cho chị Đặng Thị Xuân H được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về cấp dưỡng nuôi con:
Xét về mức cấp dưỡng: Chị H yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/tháng. Hội đồng xét xử thấy rằng mức yêu cầu cấp dưỡng này là phù hợp với mức sống trung bình tại địa phương và khả năng thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận mức 2.000.000đồng/tháng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình và khoản 2 Điều 7 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán Tòa án nhân dân tối cao
Anh T hiện nay là người có sức khỏe, có công việc và thu nhập ổn định.Vì vậy Hội đồng xét xử cần buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con theo mức quyết định của Hội đồng xét xử là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật
Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không tranh chấp. Vì vậy không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị H là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.
Anh Bùi Tấn Dương T phải chịu án phí về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Về áp dụng án lệ: Nghiên cứu các bản án lệ do TAND tối cao công bố, không có vụ án nào tương tự như vụ án đang được xét xử. Vì vậy, HĐXX không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và Điều 203; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015; Áp dụng Điều 51 và Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 107, 108, 110, 116,117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; khoản 3 Điều 4, khoản 2 Điều 7 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Đặng Thị Xuân H.
1/Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Xuân H ly hôn anh Bùi Tấn Dương T.
2/Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị Xuân H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Bùi Tấn Anh T1, sinh ngày 15/11/2017.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3/ Về cấp dưỡng nuôi con:
Buộc anh Bùi Tấn Dương T phải cấp dưỡng nuôi con: Bùi Tấn Anh T1, sinh ngày 15/11/2017, mỗi tháng là 2.000.000đồng/tháng, kể từ tháng 9 năm 2025 cho đến khi con tròn đủ 18 tuổi.
Chị Đặng Thị Xuân H có quyền yêu cầu thi hành án ngày sau khi xét xử sơ thẩm đối với số tiền anh Bùi Tấn Dương T phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Bùi Tấn Dương T có nghĩa vụ thi hành ngay số tiền Tòa án buộc phải cấp dưỡng nuôi con theo đơn yêu cầu của chị Đặng Thị Xuân H.
Kể từ ngày chị Đặng Thị Xuân H có đơn yêu cầu thi hành án về số tiền cấp dưỡng nuôi con thì anh Bùi Tấn Dương T còn phải chịu lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4/Về án phí DSST: Chị Đặng Thị Xuân H phải chịu 300.000đồng án phí DSST về việc ly hôn, nhưng được trừ vào trong số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng mà chị H đã nộp theo chứng từ giao dịch số: 07030070000000131 ngày 03/7/2025 của Ngân hàng Agribank chi nhánh 4813 -Agribank chi nhánh Đức Linh Bình Thuận. Chị Đặng Thị Xuân H đã nộp đủ án phí DSST.
Anh Bùi Tấn Dương T phải chịu 300.000đồng án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con. Án phí nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng hoặc Phòng thi hành án dân sự khu vực 17 –Lâm Đồng.
5/Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
6/ Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 17 - Thi hành án DS tỉnh Lâm Đồng - Phòng thi hành án dân sự khu vực 17 - UBND xã Hoài Đức, tỉnh Lâm Đồng - Các đương sự; -Lưu hồ sơ, quyết định./. | TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đỗ Xuân Thuận |