- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "THẠCH THỊ DIỆU - HUỲNH HOÀI PHONG"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 31/2025/HNGĐ – ST Ngày: 24 - 4 - 2025. V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lâm Tới;
2. Bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: ông Trương Quốc Danh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Nèang Sa Men – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 35/2025/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐST - HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Diệu Chi, sinh năm 2000;
Nơi cư trú: tổ 01, ấp Tân Long, xã Tân Lợi, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Hoài Phong, sinh năm 1995;
Nơi cư trú: tổ 03, ấp Vĩnh Lập, xã Vĩnh Trung, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang
(Bà Chi có đơn xin vắng mặt, ông Phong vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai Trâm trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Diệu Chi và ông Huỳnh Hoài Phong do tự tìm hiểu, có làm đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 06/07/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trung, thị xã Tịnh Biên. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tháng 11/2024 thì ly thân. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống thời gian dài không hàn gắn được, nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà Chi yêu cầu được ly hôn với ông Phong.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng không có con chung.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án: Nguyên đơn bà Thạch Thị Diệu Chi có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Huỳnh Hoài Phong vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo qui định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bà Chi có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Ông Phong không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Chi và ông Phong là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thạch Thị Diệu Chi đối với ông Huỳnh Hoài Phong; Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại Phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Tranh chấp giữa bà Thạch Thị Diệu Chi và ông Huỳnh Hoài Phong là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên thụ lý giải quyết.
Sau khi nhận được quyết định hoãn phiên tòa, bà Chi có đơn nộp cho Tòa án với nội dung đề nghị xét xử vắng mặt; Ông Phong đã nhận được các văn bản tố tụng của tòa án nhưng không có ý kiến trình bày và vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Chi và ông Phong là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Diệu Chi và ông Huỳnh Hoài Phong do tự tìm hiểu, có làm đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 06/07/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trung, thị xã Tịnh Biên. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tháng 11/2024 thì ly thân. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống thời gian dài không hàn gắn được, nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà Chi yêu cầu được ly hôn với ông Phong.
Bị đơn Huỳnh Hoài Phong đã được Tòa án nhiều lần triệu tập. Tuy nhiên, ông vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của nguyên đơn và không đến tham gia hòa giải. Như vậy, ông Phong đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên nguyên đơn và tạo thêm thời gian để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà Chi vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Từ đó, có thể nhận thấy tình cảm của bà Chi dành cho chồng đã không còn, tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của ông bà đã trầm trọng. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà Chi và ông Phong không đạt được, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Chi được ly hôn với ông Phong.
Về con chung: Không có con chung
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Bị đơn không có ý kiến về việc phân chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Bà Chi phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 179; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xét xử vắng mặt bà Thạch Thị Diệu Chi và ông Huỳnh Hoài Phong.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Thạch Thị Diệu Chi được ly hôn với ông Huỳnh Hoài Phong.
2. Về con chung: Không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Bà Thạch Thị Diệu Chi phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Án phí được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012029 ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, bà Chi đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TX Tịnh Biên; - THADS TX Tịnh Biên; - UBND xã xã Vĩnh Trung, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang; - Lưu hồ sơ./. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Minh Trang |