vanban.org

Bản án 31/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều N

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều N được ly hôn với anh Trần Văn C. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kiều N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 05/4/2010 và Trần Quốc T, sinh ngày 04/7/2013 đến thành niên hoặc tự lập được; Anh Trần Văn C… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều N
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12,
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 7 – 2025
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Anh Đoan

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Nam - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 94/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm 1989 (đề nghị vắng mặt).

Số điện thoại:

CCCD số //, ngày cấp //, do // cấp.

2.Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1988, (vắng mặt).

CMND số //. Số điện thoại: //.

Cùng nơi cư trú: tổ D ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (Nay là ấp B, xã B, tỉnh An Giang).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 03/02/2025, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều N trình bày:

Qua thời gian tìm hiểu, chị và anh C được gia đình tổ chức lễ cưới năm 2009, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 53 ngày 27/8/2010. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cãi vã, nguyên nhân anh C thường xuyên, chơi cờ bạc, uống rượu, không quan tâm chăm lo vợ con; mâu thuẫn của vợ chồng vẫn tiếp tục kéo dài đến năm 2017 thì chị phát hiện anh C còn sử dụng ma túy, chị đã nhiều lần khuyên can nhưng không được mà anh C còn hành hung đánh chị; không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa nên chị và anh C sống ly thân từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay. Hiện tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn C.

- Về con chung: có 02 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 05/4/2010 và Trần Quốc T, sinh ngày 04/7/2013 hiện nay đang sống chị N. Chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

- Bị đơn anh Trần Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 -An Giang:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Hôn nhân của chị N và anh C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nay chị N yêu cầu ly hôn với anh C. Về con chung anh, chị có 02 con chung, hiện các con đang sống với chị N. Chị N yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh C và yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Trần Văn C là bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã B, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - An Giang.

Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh C đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 02 không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan; nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh, chị theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh C. Xét chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện, hôn nhân của anh chị được xác lập năm 2010 trên cơ sở tự tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng đã ly thân từ tháng 9 năm 2024 đến nay. Trong quá trình ly thân vợ chồng không hàn gắn được tình cảm, mỗi người sinh sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị N yêu cầu ly hôn với anh C là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: có 02 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 05/4/2010 và Trần Quốc T, sinh ngày 04/7/2013 hiện nay đang sống chị N. Chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con.

Xét thấy, sau khi ly thân đến nay các con do chị N chăm sóc, giáo dục, đảm bảo phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và 02 cháu B và T đều có nguyện vọng sống với mẹ; nên căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần giao 02 con chung cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến thành niên hoặc tự lập được, do chị N không yêu cầu anh C cấp dưỡng nên anh C không phải cấp dưỡng cho con. Chị N phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh C đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng, chị N không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì anh C có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Anh C không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều N

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều N được ly hôn với anh Trần Văn C.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kiều N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 05/4/2010 và Trần Quốc T, sinh ngày 04/7/2013 đến thành niên hoặc tự lập được; Anh Trần Văn C không phải cấp dưỡng cho con.

Chị Nguyễn Thị Kiều N phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Trần Văn C đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều N phải chịu án phí là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011889 ngày 27/02/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – An Giang) (đã nộp đủ).

Anh Trần Văn C không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ