vanban.org

Bản án 31/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của bà Hồ Ngọc T.

Về hôn nhân: Cho bà Hồ Ngọc T và ông Lê Văn N được ly hôn. Về nuôi con: bà Hồ Ngọc T được tiếp tục nuôi dưỡng con 02 tên Lê Quấc V, sinh ngày 25/10/2012 và Lê Quốc N1, sinh ngày 11/4/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của bà Hồ Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 01-12-2025.
V/v “Ly hôn và tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Đoàn Trung Thống.

2/. Ông Thạch Thanh Long.

Thư ký phiên tòa: bà Quách Thúy Lam – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2025/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 5 năm 2025 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HN ngày 28 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 147/2025/QĐST-HN, ngày 14/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Hồ Ngọc T, sinh năm 1987 (yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố C, phường L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: ông Lê Văn N, sinh năm 1986 (vắng mặt không lý do).

Địa chỉ: ấp N, xã A, tỉnh Vĩnh Long.

Con chung của bà T và ông N tên: Lê Quấc V, sinh ngày 25/10/2012 và Lê Quốc N1, sinh ngày 11/4/2018. Địa chỉ: Khu phố C, phường L, tỉnh Lâm Đồng (yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Hồ Ngọc T là nguyên đơn trình bày: bà và ông N tự quen biết nhau, tìm hiểu và được cha mẹ hai bên đồng ý cho đi đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (nay là Ủy ban nhân dân xã A) vào ngày 17/11/2008, nữ trang ngày cưới không có, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì bà và ông N phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống chung trong gia đình nhưng không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cự cải, nguyên nhân do ông N không lo làm ăn, đam mê cờ bạc gây nợ nần cho gia đình, ông N hoàn toàn không có trách nhiệm với gia đình, không phụ giúp bà, chăm lo phát triển kinh tế và nuôi dạy con cái, vì thương các con còn nhỏ và mong muốn níu giữ hạnh phúc gia đình, bà và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, tha thứ cho ông N nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng không có kết quả, vào năm 2023 bà đã nộp đơn lên Tòa án nhân dân huyện Càng Long (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long) để yêu cầu giải quyết ly hôn với ông N, đơn khởi kiện ly hôn đã được Tòa án nhận và thụ lý vào ngày 08/4/2024 Tòa án đưa ra quyết định là không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà đối với ông Lê Văn N, kể tử thời gian đó cho đến nay thì cả 02 vợ chồng cũng không thể hòa hợp, hàn gắn tình cảm lại với nhau được, khoảng năm 2023 bà và ông N ly thân từ thời gian đó cho đến nay, không hàn gắn được.

Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng sinh được 02 người con chung tên tên Lê Quấc V, sinh ngày 25/10/2012 và Lê Quốc N1, sinh ngày 11/4/2018 hiện đang sống chung với bà.

Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tạo lập tài sản chung.

Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có thiếu nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng bà.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

- Về hôn nhân: bà xin được ly hôn với ông Lê Văn N.

- Về nuôi con tên: Lê Quấc V, sinh ngày 25/10/2012 và Lê Quốc N1, sinh ngày 11/4/2018 hiện đang sống chung với bà, sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con, bà không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi 02 con.

- Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Lê Văn N là bị đơn vắng mặt nên không có lời trình bày.

Cháu Lê Quấc V trình bày: Cháu là con của bà Hồ Ngọc T và ông Lê Văn N, cháu học lớp 8 trường trung học cơ sở T2, hiện đang sống chung với mẹ, sau khi cha mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu muốn được sống chung với mẹ là bà Hồ Ngọc T.

Cháu Lê Quốc N1 trình bày: Cháu là con của bà Hồ Ngọc T và ông Lê Văn N, cháu học lớp 2 trường tiểu học T3, hiện đang sống chung với mẹ, sau khi cha mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu muốn được sống chung với mẹ là bà Hồ Ngọc T.

Vụ kiện đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng ông Lê Văn N là bị đơn vắng mặt do đó không tiến hành phiên hòa giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay bà Hồ Ngọc T là nguyên đơn, cháu Lê Quấc V và cháu Lê Quốc N1 là con của bà T và ông N vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, đối với ông Lê Văn N là bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không có lý do.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long trình bày quan điểm cho rằng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên phía bị đơn ông Lê Văn N chưa chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự cụ thể ông Lê Văn N không có mặt trong các phiên hòa giải, công khai chứng cứ mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ.

Về nội dung vụ kiện Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy đinh tại các Điều 19, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

Các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Ngọc T.

- Về hôn nhân: Cho bà Hồ Ngọc T và ông Lê Văn N được ly hôn.

- Về nuôi con: bà Hồ Ngọc T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con tên Lê Quấc V, sinh ngày 25/10/2012 và Lê Quốc N1, sinh ngày 11/4/2018.

Ông Lê Văn N được quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự chưa yêu cầu nên không xem xét.

- Về tài sản chung, về nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.

Vị còn đề nghị buộc bà Hồ Ngọc T có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa hôm nay bà Hồ Ngọc T là nguyên đơn, cháu Lê Quấc V và cháu Lê Quốc N1 là con của bà T và ông N vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, đối với ông Lê Văn N là bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không có lý do, căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.

Về xác định quan hệ tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dụng vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân của bà Hồ Ngọc T và ông Lê Văn N được xác lập vào năm 2008, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (nay là Ủy ban nhân dân xã A) vào ngày 17/11/2008 đúng quy định của pháp luật. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh được quy định tại khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, từ đó xác định hôn nhân giữa bà T và ông N là hôn nhân hợp pháp.

Xét về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo bà T cho rằng thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì bà và ông N phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống chung trong gia đình nhưng không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cự cải, nguyên nhân do ông N không lo làm ăn, đam mê cờ bạc gây nợ nần cho gia đình, ông N hoàn toàn không có trách nhiệm với gia đình, không phụ giúp bà, chăm lo phát triển kinh tế và nuôi dạy con cái, vì thương các con còn nhỏ và mong muốn níu giữ hạnh phúc gia đình, bà và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, tha thứ cho ông N nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng không có kết quả, vào năm 2023 bà đã nộp đơn lên Tòa án nhân dân huyện Càng Long (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long) để yêu cầu giải quyết ly hôn với ông N, đơn khởi kiện ly hôn đã được Tòa án nhận và thụ lý vào ngày 08/4/2024 Tòa án đưa ra quyết định là không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà đối với ông Lê Văn N, kể tử thời gian đó cho đến nay thì cả 02 vợ chồng cũng không thể hòa hợp, hàn gắn tình cảm lại với nhau được, khoảng năm 2023 bà và ông N ly thân từ thời gian đó cho đến nay, không hàn gắn được. Nay bà T nhận thấy không còn tình cảm với ông N nên yêu cầu được ly hôn.

Qua xác minh ông Lê Văn T1 là anh ruột của ông Lê Văn N và Chính quyền địa phương ông Lê Văn N là em ruột của ông Lê Văn T1 sống chung nhà với ông T1 ở ấp N, xã A, ông N và bà T xác lập hôn nhân do quen biết tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là Ủy ban nhân dân xã A) vào ngày 17/11/2008, sau khi cưới ông N và bà T đi làm ở thành H tết, lễ mới về địa phương tại ấp N chơi vài ngày rồi đi làm tiếp, khoảng năm 2023 nghe nói ông N và bà T có cải vã lục đục bà T nộp đơn ly hôn tại Tòa án, Tòa án có đến gặp xác minh tình trạng hôn nhân giữa ông N và bà T, từ khoảng năm 2023 đến nay bà T không còn về cùng ông N nữa, chỉ thấy ông N về nhà trong dịp lễ tết không thấy vợ con ông N về, nghe nói bà T đã dẫn 02 con về quê ở tỉnh Bình Thuận sống và 02 vợ chồng không còn tới lui, từ khi Tòa án bác đơn ly hôn đến nay ông N và bà T cũng không có hàn gắn, về tài sản chung và nợ chung của 02 vợ chồng do 02 vợ chồng không có sống tại địa phương nên không nắm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Bà T cho rằng bà và ông N không còn sống chung khoảng năm 2023 cho đến nay, không hàn gắn được.

Nay bà T xác nhận vợ chồng không còn tình cảm với nhau và yêu cầu được ly hôn, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về nuôi con tên: Lê Quấc V, sinh ngày 25/10/2012 và Lê Quốc N1, sinh ngày 11/4/2018 hiện 02 con đang sống chung với bà T, theo lời trình bày của bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, mặt khác theo nguyện vọng của cháu Lê Quấc V và cháu Lê Quốc N1 muốn được sống với bà T, từ đó nghĩ nên giao bà T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Quấc V và cháu Lê Quốc N1 sau khi ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Ông Lê Văn N có quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà Hồ Ngọc T chưa có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, về nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.

Về án phí: bà Hồ Ngọc T có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Xét quan điểm của Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình;

Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của bà Hồ Ngọc T.

- Về hôn nhân: Cho bà Hồ Ngọc T và ông Lê Văn N được ly hôn.

- Về nuôi con: bà Hồ Ngọc T được tiếp tục nuôi dưỡng con 02 tên Lê Quấc V, sinh ngày 25/10/2012 và Lê Quốc N1, sinh ngày 11/4/2018.

Ông Lê Văn N được quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự chưa yêu cầu nên không xem xét.

- Về tài sản chung, về nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.

- Về án phí: Bà Hồ Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005297, ngày 19/5/2025 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long thu (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 – Vĩnh Long), bà Hồ Ngọc T đã nộp đủ tiền án phí, ông Lê Văn N không phải nộp án phí.

2. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Cỡ chữ