vanban.org

Bản án 31/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đoàn Thị Song R, cho bà Đoàn Thị Song R ly hôn với ông Nguyễn Hoàng K.

Về con chung: Giao một (01) con chung tên Nguyễn Hoàng T sinh ngày 16/02/2014 cho ông Nguyễn Hoàng K nuôi dưỡng. Giao một (01) con chung tên Nguyễn Ngọc Phương T1 sinh ngày 28/9/2017 cho bà Đoàn Thị Song R nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Hoàng K, bà Đoàn Thị Song R không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ĐoànThị Song R - Nguyễn Hoàng K"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đoàn Thị Song R, cho bà Đoàn Thị Song R ly hôn với ông Nguyễn Hoàng K.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2025
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Kiều Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Hải.

Ông Nguyễn Văn Nghiêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chăm – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh xét xử công khai vụ án thụ lý số 169/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Song R, sinh năm 1989;

Địa chỉ: B khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1985;

Địa chỉ: B khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.

(Bà Song R, ông K vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/4/2025 và các lời trình bày của bà Đoàn Thị Song R có nội dung:

Năm 2012, bà Song R quen biết và kết hôn với ông Nguyễn Hoàng K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thành phố T, tỉnh Long An. Bà và ông K chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng mâu thuẫn về tình cảm, quan điểm, lối sống nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Hiện bà Song R và ông K không còn chung sống. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông K.

Về con chung: bà và ông K có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng T sinh ngày 16/02/2014 và Nguyễn Ngọc Phương T1 sinh ngày 28/9/2017. Khi ly hôn, bà Song R yêu cầu được nuôi dưỡng 01 con chung là Nguyễn Ngọc Phương T1, ông K nuôi dưỡng 01 con chung là Nguyễn Hoàng T. Bà Song R và ông K không cần phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 29/5/2025, bà Song R có văn bản đề nghị Tòa án xem xét cho bà được vắng mặt trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Bị đơn, ông Nguyễn Hoàng K vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án:

Ông Nguyễn Hoàng K đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết, tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông K không đến tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải do Tòa án tổ chức, không có văn bản thể hiện ý kiến của ông đối với yêu cầu ly hôn của bà Song R. Phiên tòa hôm nay, ông K cũng vắng mặt dù đã được tống đạt giấy báo hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:

- Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở nhận định quan hệ hôn nhân giữa ông K và bà Song R đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Song R.

Về con chung: ông K và bà Song R có 02 con chung, bà S Rây đề nghị được nuôi dưỡng 01 con chung, ông K nuôi dưỡng 01 con chung, các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông K cũng không có ý kiến gì nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Do bà Song R không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Bà Đoàn Thị Song R khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng K có địa chỉ cư trú tại phường T, tỉnh Tây Ninh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh.

Về việc xét xử vắng mặt Nguyên đơn là bà Đoàn Thị Song R, Bị đơn là ông Nguyễn Hoàng K: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập ông K đến các phiên tòa sơ thẩm nhưng ông K không chấp hành. Riêng bà Song R đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Song R và ông Nguyễn Hoàng K tự tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại xã A, thành phố T, tỉnh Long An năm 2012 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của bà Song R thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, quan điểm, lối sống nên thường hay cãi vã, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, biết được việc bà Song R yêu cầu ly hôn với ông nhưng ông không đưa ra những biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Song R. Như vậy, chứng tỏ rằng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà Song R và ông K đã có những mâu thuẫn không giải quyết được. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Song R và ông K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà Song R là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: bà Song R và ông K có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng T sinh ngày 16/02/2014 và Nguyễn Ngọc Phương T1 sinh ngày 28/9/2017. Bà Song R yêu cầu được nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Phương T1 vì hiện tại T1 đang sống với bà Song R, ông K nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Hoàng T do T đang sống với ông K. Ông K không đến theo sự triệu tập của Toà án nên Toà án cũng không ghi nhận được ý kiến của K đối với việc nuôi dưỡng con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy việc bà S Rây đề nghị được nuôi dưỡng 01 con chung, giao ông K nuôi dưỡng 01 con chung là phù hợp với thực tế sinh sống của các đương sự, cũng phù hợp với nguyện vọng của các con chung và không trái với quy định của pháp luật nên chấp nhận đề nghị của bà Song R. Do bà Song R cũng không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con chung, ông K cũng không có ý kiến về việc cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề này.

Ông K, bà Song R được quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì quyền lợi con chung ông K, bà Song R có quyền xin thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: bà Song R không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Hội đồng xét xử xét thấy, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án trên là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Song R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đ theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đoàn Thị Song R, cho bà Đoàn Thị Song R ly hôn với ông Nguyễn Hoàng K.

2. Về con chung: Giao một (01) con chung tên Nguyễn Hoàng T sinh ngày 16/02/2014 cho ông Nguyễn Hoàng K nuôi dưỡng. Giao một (01) con chung tên Nguyễn Ngọc Phương T1 sinh ngày 28/9/2017 cho bà Đoàn Thị Song R nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Hoàng K, bà Đoàn Thị Song R không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Hoàng K, bà Đoàn Thị Song R có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì quyền lợi con chung, ông Nguyễn Hoàng K, bà Đoàn Thị Song R có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Đoàn Thị Song R phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Chuyển số tiền tạm ứng án phí bà Song R đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0000039 ngày 22/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Tây Ninh) thành án phí dân sự sơ thẩm, bà Song R đã nộp đủ.

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. *Nơi nhận:

Cỡ chữ