vanban.org

Bản án 31/2024/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam đối với Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L.

Buộc Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam số tiền gốc và lãi tính đến ngày 17/6/2024 là 7.225.762.217đ (Bảy tỷ, hai trăm hai mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm mười bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 4.541.594.290 đồng, nợ lãi:… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng TMCP HHVN - Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam đối với Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L.
  • Căn cứ chính? Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/KDTM-ST
Ngày: 18-6-2024
V/v: “Tranh chấp
hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Ân

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Văn Thông

+ Bà Trần Thị Kim Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mùi- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hà Giang- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 03/2024/TLST- KDTM ngày 02 tháng 02 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-KDTM ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-KDTM ngày 20/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB); địa chỉ: Số 54A, Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng Linh; chức vụ: Tổng Giám đốc.

- Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Tiến T; chức vụ: Giám đốc tố tụng cấp 2; địa chỉ liên lạc: Số 224, Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L; địa chỉ: đường Thanh Hoá, Tổ 4, Khối phố 7, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

- Người đại diện theo pháp luật: Bà Lưu Thị Đoan Tr; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc; địa chỉ: 892/3 Phan Chu Trinh, Khối phố 1, phường A, thành phố T, tỉnh Q. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 02/12/2020, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L và Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) có ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 24.06/2020/HĐTD với số tiền là 3.600.000.000đ (Ba tỷ sáu trăm triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng. Đến ngày 07/7/2021, hai bên tiếp tục ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 24.07/2021/HĐTD với số tiền 7.500.000.000đ (Bảy tỷ năm trăm triệu đồng), thời hạn vay là 36 tháng, lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 8,57%/năm và được áp dụng mức lãi suất theo quy định của Ngân hàng tại từng thời điểm giải ngân, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay là bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L đã ký kết 41 Khế ước vay vốn, tổng số tiền Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty Trần L là 8.728.000.000đ (Tám tỷ bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Để đảm bảo cho các khoản vay nói trên, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L đã thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số xxxxxxxxxx do UBND tỉnh Quảng Nam cấp ngày 21/7/2003, thửa đất số 163, tờ bản đồ số 13 tại kiệt 100/6 Trần Cao Vân, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy CNQSH nhà ở và quyền sử dụng đất ở số AD 397572 do UBND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 22/9/2005, thửa đất số 24, tờ bản đồ số 19 tại kiệt 100/9 Trần Cao Vân, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; xe ô tô tải nhãn hiệu Thaco Auman, BKS: 92C-054.30 sản xuất năm 2014 đứng tên Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo các hợp đồng đã ký kết. Ngân hàng đã tạo điều kiện và phối hợp với Công ty Trần L tiến hành các thủ tục cần thiết để bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tuy nhiên, số tiền bán đấu giá tài sản chỉ đủ để trả một phần nghĩa vụ trả nợ. Đối với số tiền nợ còn lại, mặc dù Ngân hàng đã đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần nhưng Công ty Trần L vẫn cố tình không trả nợ.

Nay, Ngân hàng yêu cầu Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L phải trả số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 17/6/2024 là 7.225.762.217đ (Bảy tỷ, hai trăm hai mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm mười bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 4.541.594.290 đồng, nợ lãi: 1.858.974.792 đồng, lãi quá hạn: 825.193.135 đồng; buộc Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L phải tiếp tục trả lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, kể từ ngày 18/6/2024 cho tới khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Đối với tài sản thế chấp, hai bên đã thoả thuận xử lý xong.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đại diện của Công ty Trần L vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và hoà giải.

* Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa là đúng pháp luật. Bị đơn được tống đạt thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng không chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam. Buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L phải trả cho Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam số tiền tính đến ngày 17/6/2024 là 7.225.762.217 (Bảy tỷ, hai trăm hai mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm mười bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 4.541.594.290 đồng, nợ lãi: 1.858.974.792 đồng, lãi quá hạn: 825.193.135 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam khởi kiện đối với Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong hợp đồng tín dụng, đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên đây là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L có trụ sở tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L, nhưng người đại diện của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) thì thấy:

Vào ngày 02/12/2020, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L và Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) có ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 24.06/2020/HĐTD với số tiền là 3.600.000.000đ (Ba tỷ sáu trăm triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng. Đến ngày 07/7/2021, hai bên tiếp tục ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 24.07/2021/HĐTD với số tiền 7.500.000.000đ (Bảy tỷ năm trăm triệu đồng), mục đích vay là bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh. Các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được quy định tại các Điều 117, 118, 119, 401 và Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, hợp đồng có hiệu lực pháp luật và các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng các cam kết đã ký trong hợp đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam từ tháng 11/2021. Do vậy, hai bên đã thoả thuận bán toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tuy nhiên, số tiền bán tài sản chưa đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L đã trả số tiền gốc là 4.186.405.710 đồng, số tiền gốc còn nợ lại là 4.541.594.290 đồng.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có đủ cơ sở để xác định: Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay theo Hợp đồng tín dụng số 24.06/2020/HĐTD ngày 02/12/2020 và Hợp đồng tín dụng hạn mức số 24.07/2021/HĐTD ngày 07/7/2021 đã ký với Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam kể từ ngày 08/11/2021. Tính đến hết ngày 17/6/2024, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L còn nợ Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam số tiền là 7.225.762.217 (Bảy tỷ, hai trăm hai mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm mười bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 4.541.594.290 đồng, nợ lãi: 1.858.974.792 đồng, lãi quá hạn: 825.193.135 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, đại diện của bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, không có ý kiến hoặc văn bản trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo biên bản xác minh ngày 17/4/2024 tại Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam thể hiện: Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L; địa chỉ: đường Thanh Hoá, Tổ 4, Khối phố 7, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam chưa bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp và cũng chưa thực hiện thủ tục giải thể. Tại biên bản xác minh ngày 03/4/2024 tại Công an phường An Sơn thể hiện: trên địa bàn Tổ 4, Khối phố 7, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam không có Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L đặt trụ sở và hoạt động. Theo trình bày của đại diện nguyên đơn, tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L có trụ sở và hoạt động tại địa chỉ nêu trên. Điều này cho thấy, sau khi xử lý tài sản thế chấp, Công ty Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L đã thay đổi địa chỉ nhưng không thông báo cho Ngân hàng về việc thay đổi địa chỉ nên được xem là cố tình giấu địa chỉ. Do đó, căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, Toà án tiến hành giải quyết, xét xử theo thủ tục chung.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy việc Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L phải trả khoản nợ trong Hợp đồng tín dụng là có cơ sở. Do đó, căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tạm tính đến hết ngày 17/6/2024 cho Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam theo Hợp đồng tín dụng số 24.06/2020/HĐTD ngày 02/12/2020 và Hợp đồng tín dụng hạn mức số 24.07/2021/HĐTD ngày 07/7/2021 số tiền là 7.225.762.217đ (Bảy tỷ, hai trăm hai mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm mười bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 4.541.594.290 đồng, nợ lãi: 1.858.974.792 đồng, lãi quá hạn: 825.193.135 đồng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh của khoản vay từ ngày 18/6/2024 theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 24.06/2020/HĐTD ngày 02/12/2020 và Hợp đồng tín dụng số 24.07/2021/HĐTD ngày 07/7/2021 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam được chấp nhận nên Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam đối với Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L.

- Buộc Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam số tiền gốc và lãi tính đến ngày 17/6/2024 là 7.225.762.217đ (Bảy tỷ, hai trăm hai mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm mười bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 4.541.594.290 đồng, nợ lãi: 1.858.974.792 đồng, lãi quá hạn: 825.193.135 đồng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh của khoản vay từ ngày 18/6/2024 theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 24.06/2020/HĐTD ngày 02/12/2020 và Hợp đồng tín dụng số 24.07/2021/HĐTD ngày 07/7/2021 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

[2]. Về án phí:

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 115.226.000đ (Một trăm mười lăm triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần L phải chịu. Hoàn trả lại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.438.000đ (Năm mươi bảy triệu, bốn trăm ba mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001187 ngày 02/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ.

[3] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ