vanban.org

Bản án 31/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 05/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 22 tháng 12 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trinh Van Luyen tang tru TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày 05 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và ông Nguyễn Xuân Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Văn L (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973; nơi sinh: Thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội; cư trú tại: Tổ C, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 03/10; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Tự do; con ông Trịnh Xuân L1 và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Hạ Thị L2 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

- Tại bản án số 127/1996/HSPT ngày 30 tháng 8 năm 1996, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú xử phạt 15 tháng tù về tội “Đánh bạc”, (Đã được xóa án tích).

- Tại bản án số 25/2005/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2005, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 18 tháng tù về tội “Đánh bạc”, (Đã được xóa án tích).

- Tại bản án số 03/2007/HSPT ngày 25 tháng 01 năm 2007, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 30 tháng tù về tội “Đánh bạc”, (Đã được xóa án tích).

- Tại bản án số 62/2011/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, (Đã được xóa án tích).

- Tại Quyết định số 11/QĐ-TA ngày 15 tháng 8 năm 2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, (Đã được xóa).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 12 năm 2023 đến nay, “có mặt”.

Người làm chứng: Anh Đinh Hoàng H1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 22 tháng 12 năm 2023, Trịnh Văn L đang đi lang thang tại khu vực phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc thì có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy. Tại đây, L gặp một người đàn ông lạ mặt, dáng vẻ giống người nghiện (L không biết tên, tuổi, nhân thân, lai lịch của người này). Luyến đến bắt chuyện làm quen thì được biết người này cũng là người nghiện ma túy như L. L hỏi người này “Anh có hàng không, để em bốn trăm trắng” thì người này bảo “Có, đưa tiền đây”. L lấy ra số tiền 400.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người đàn ông cầm tiền rồi đưa lại cho L 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa các chất cục bột màu trắng. Mua được ma túy, L cất gói ma túy vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi tìm chỗ sử dụng ma túy.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đi đến khu vực Tổ dân phố X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị lực lượng Công an phường P, thành phố P kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, vật chứng:

- T tại túi áo khoác bên phải của Trịnh Văn L đang mặc trên người 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, gói giấy này được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1. L khai nhận là ma túy để sử dụng cá nhân.

- Thu giữ 50ml mẫu nước tiểu của L để giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 3477/KLGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,2804g (Không phảy hai tám không bốn gam, không kể bao bì) là ma túy; loại Heroine”. Cơ quan giám định đã hoàn lại A1 = 0,2276 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.

Tại kết luận giám định số 3555/KLGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh V đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Trịnh Văn L, kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu nước tiểu thu của Trịnh Văn L, SN 1973, HKTT: thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội gửi đến giám định”. Morphine là chất ma túy nằm ở danh mục IIA, STT 55, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Cơ quan giám định hoàn lại 0,00ml mẫu cùng bao gói được niêm phong theo quy định.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho L, Cơ quan điều tra đã tổ chức xác minh nhưng không làm rõ được nhân thân, lai lịch.

Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSPY ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Trịnh Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trịnh Văn L về tội danh như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo L từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra – Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, trưng cầu giám định, lấy lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo không ai có khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22 tháng 12 năm 2023 tại khu vực thuộc địa phận tổ dân phố X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, Trịnh Văn L có hành vi cất giấu tại túi áo khoác bên phải đang mặc trên người 01 túi ma túy (Heroine), có khối lượng 0,2804 gam với mục đích để sử dụng cá nhân thì bị Công an phường P, thành phố P bắt quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác. Phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định khối lượng Heroine của Phòng K - Công an tỉnh V,...Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố bị cáo Trịnh Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

….

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có nhân thân xấu nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện, ăn chơi đua đòi ngang nhiên mua ma túy (Heroine) với mục đích sử dụng cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Trịnh Văn L trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu, bản thân bị cáo đã 03 lần bị kết án về tội “Đánh bạc”; 01 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, mặc dù những lần nêu trên đều đã được xóa án tích tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học, nay lại tiếp tục phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo như mức đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với người đàn ông L khai đã bán ma túy cho L, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Trịnh Văn L làm nghề tự do không có thu nhập, tài sản do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,2276 gam mẫu ma túy và toàn bộ bao gói niêm phong hoàn trả sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 22 tháng 12 năm 2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 0,2276 gam mẫu ma túy, 01 (Một) chai nhựa cùng toàn bộ bao gói niêm phong hoàn trả sau giám định.

Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 54 lập ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ