vanban.org

Bản án 31/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày: 31-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Phước Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Thanh Nhàn;

2. Ông Đỗ Minh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 và 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1983, tại tỉnh K; hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã C, thành phố C, tỉnh K; chỗ ở hiện nay: Khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn U (đã chết) và bà Trần Thị D (đã chết), vợ tên Phạm Thị Bích N (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2012; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Ngày 19/6/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1944; địa chỉ: Khu phố 7, phường H, Quận 1, Tp. H (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố 7, phường T, Quận 1, Tp. H (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Mỹ Lan C1, sinh năm 1964; địa chỉ: Khu phố 2, Phường 1, thị xã C, tỉnh T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trọng Q được Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy phép lái xe hạng A1 số 790093027315 ngày 24/8/2020.

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/02/2023, Nguyễn Trọng Q điều khiển xe mô tô hiệu Honda Sh150i, biển số 61K1-212.07 chở phía sau con gái là Nguyễn Thảo N (sinh năm 2012) lưu thông trên đường TC1 theo hướng từ đường N5 đến đường quốc lộ 13 đến đoạn thuộc khu phố 6, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát thì Q điều khiển xe mô tô biển số 61K1-212.07 chuyển hướng qua phần đường ngược chiều để đi vào lề phải đường.

Khi xe mô tô của Q chuyển hướng đến làn đường dành cho xe mô tô thì xảy ra va chạm với xe mô tô hiệu Yamaha Acruzo, biển số 63B2-590.69 do ông Nguyễn Văn C điều khiển theo hướng từ đường quốc lộ 13 đến đường N5. Tai nạn xảy ra làm ông Nguyễn Văn C bị thương nặng được người dân đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương cấp cứu, điều trị đến ngày 14/02/2023 thì tử vong.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường:

- Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn lái xe không bị che khuất, có vạch kẻ đường liền đôi màu vàng ở giữa, phân chia phần đường TC1 thành hai hướng xe chạy ngược chiều nhau. Chiều rộng cả mặt đường TC là 24,8m, chiều rộng nửa mặt đường nơi xảy ra tai nạn là 12,4m được chia làm ba làn, làn đường liền kề với lề rộng 4,7m và được phân chia bằng vạch kẻ đơn đứt quãng, làn đường liền kề với vạch kẻ tim đường rộng 3,9m được phân chia bởi vạch kẻ đơn đứt quãng, làn đường ở giữa rộng 3,8m. Đoạn đường có đèn tín hiệu chiếu sáng.

- Lấy lề đường bên phải phần đường TC1 theo chiều hướng xe lưu thông từ đường quốc lộ 13 đến đường N6 làm chuẩn để đo đạc. Lấy góc nhà bên phải nhà hàng Yến Nhi 3 nằm trong mép đường chuẩn, cách mép đường chuẩn là 4m, cách trục bánh trước xe mô tô biển số 61K1-212.07 là 18,7m làm điểm mốc.

- Xe mô tô biển số 61K1-212.07 sau va chạm không bị ngã, đỗ tại hiện trường, đầu xe hướng đến đường quốc lộ 13, đuôi xe hướng đến đường N5; trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 3,5m, trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 3,5m, trục bánh trước đo đến điểm mốc là 18,7m.

- Xe mô tô biển số 63B2-590.69 sau va chạm ngã nghiêng sang phải. Đầu xe hướng sang mép đường trái, đuôi xe hướng vào mép đường chuẩn. Trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 7,2m; trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 6,1m.

- Vết cày xe mô tô biển số 63B2-590.69 sau va chạm để lại trên mặt đường có dạng thẳng, đứt quảng, không liên tục chiều hướng vết cày từ quốc lộ 13 đến đường N5, chếch sang mép đường bên trái. Điểm đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 5,3m, cách trục bánh sau xe mô tô biển số 61K1-212.07 là 2,3m, kích thước vết cày là 5,1m x 0,02m. Điểm cuối vết cày kết thúc tại bên phải xe mô tô biển số 63B2-590.69.

Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện:

- Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số 61K1-212.07 do va chạm với xe mô tô biển số 63B2-590.69: Vết trượt xước màu đen hướng từ trước về sau. Tâm vết trượt xước cách trục sau bánh xe bên phải là 0,47m. Vết trượt xước màu đen đầu gác chân phía sau bên phải kích thước 0,06m x 0,01m, tâm vết cách mặt đường là 0,35m. Cong bảo vệ ống xả hướng từ trước về sau, kích thước 0,06m x 0,04m. Móp mặt trước ống xả hướng từ trước về sau.

- Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số 63B2-590.69 do va chạm với xe mô tô biển số 61K1-212.07: Cong mép phải niềng bánh trước kích thước 0,2m x 0,05m. Trượt xước, khuyết mặt trước đầu phuộc trước bên phải kích thước 0,8m x0,01m. Cong phuộc trước bên phải về sau. Trượt xước mép phải về trước kích thước 0,4m x 0,1m. Bể rời cánh bửng bên phải kích thước 0,45m x 0,13m. Bung đèn tín hiệu phía trước bên phải. Mài mòn đầu gác tay cầm phải, đầu gác chân trước phải, sau phải. Trượt xước mặt lăn vỏ bánh trước kích thước 0,17m x 0,05m.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda Sh150i, biển số 61K1-212.07; xe mô tô hiệu Yamaha Acruzo, biển số 63B2-590.69.

Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 115, ngày 16/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của bị hại Nguyễn Văn C là do chấn thương sọ não, nứt xương hộp sọ, dập não.

Theo Kết luận định giá tài sản số 122 ngày 31/8/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: Chi phí sữa chữa hư hỏng của xe mô tô hiệu Yamaha Acruzo, biển số 63B2-590.69 là 6.931.000 đồng.

Theo Kết quả đo nồng độ cồn trong máu của Bệnh viện Đa khoa Mỹ Phước (lúc 20 giờ 01 phút ngày 12/02/2023) đối với bị hại Nguyễn Văn C thì nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Văn C là 26,8mg/L.

Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Q đã khai rằng: Ngay trước khi tai nạn xảy ra, Q điều khiển xe chuyển hướng qua phần đường ngược chiều. Khi qua đến làn đường dành cho xe mô tô do không chú ý quan sát để nhường đường cho xe chạy thẳng dẫn đến gây ra tai nạn.

* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 04/4/2023, Nguyễn Trọng Q đã thỏa thuận bồi thường cho ông Nguyễn Văn H (là người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C) số tiền 130.000.000 đồng. Ông H đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Trọng Q.

* Về xử lý vật chứng: Xe mô tô hiệu Yamaha Acruzo, biển số 63B2-590.69 do bà Lê Mỹ Lan C1 là bạn của nạn nhân Nguyễn Văn C đứng tên đăng ký. Ngày 11/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giao trả xe mô tô hiệu Yamaha Acruzo, biển số 63B2-590.69 cho bà C1; giao trả xe mô tô hiệu Honda Sh150i, biển số 61K1-212.07 cho Nguyễn Trọng Q.

Tại Cáo trạng số 40/CT-VKSBC ngày 23/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Nguyễn Trọng Q về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố thể hiện tại Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Q mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời hạn thử thách theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong không đề nghị xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến về tội danh, mức hình phạt Kiểm sát viên đã đề nghị.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/02/2023, bị cáo Q điều khiển xe mô tô hiệu Honda Sh150i, biển số 61K1-212.07 chở phía sau con gái là Nguyễn Thảo Nguyên lưu thông trên đường TC1 theo hướng từ đường N5 đến đường quốc lộ 13 đến đoạn thuộc khu phố 6, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Khi bị cáo điều khiển xe mô tô chuyển hướng qua phần đường ngược chiều để đi vào lề phải đường thì xảy ra va chạm với xe mô tô do ông C điều khiển theo hướng từ đường quốc lộ 13 đến đường N5. Tai nạn xảy ra làm ông Nguyễn Văn C bị thương nặng được người dân đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương cấp cứu, điều trị đến ngày 14/02/2023 thì tử vong.

Xét hành vi của bị cáo Q điều khiển xe mô tô khi chuyển hướng xe nhưng không quan sát, không giảm tốc độ và không nhường đường cho xe môt tô của bị hại dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông làm bị hại tử vong, hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 40/CT-VKSBC ngày 23/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Nguyễn Trọng Q về tội : “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của bị hại. Xét tình hình tai nạn giao thông xảy ra ngày một gia tăng do người điều khiển phương tiện giao thông không tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ, hậu quả gây ra là có thể gây nguy hiểm cho bị hại và chính bản thân bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho phía gia đình bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngoài ra, đại diện hợp pháp của bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại có một phần lỗi khi điều khiển phương tiện giao thông với nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định, xử lý kém. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo để tự cải tạo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, xét lời đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo của vị đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Ngoài ra, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo về cấm bị cáo hành nghề vận tải.

Về trách nhiệm dân sự:

Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền bồi thường 130.000.000 đồng, và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, nên HĐXX không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với xe mô tô, nên HĐXX không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Xe mô tô hiệu Yamaha Acruzo, biển số 63B2-590.69 do bà Lê Mỹ Lan Chi là bạn của nạn nhân Nguyễn Văn C đứng tên đăng ký. Ngày 11/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giao trả xe mô tô hiệu Yamaha Acruzo, biển số 63B2-590.69 cho bà Chi; giao trả xe mô tô hiệu Honda Sh150i, biển số 61K1-212.07 cho Nguyễn Trọng Q là phù hợp.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng Q 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, số 790093027315 ngày 24/8/2020.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp, nên được HĐXX chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Q phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/01/2024).

Giao bị cáo cho UBND phường T, thị xã B, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi được giao để giám sát phải thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

3. Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng Q 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, số 790093027315 ngày 24/8/2020 (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 31/01/2024 của Công an thị xã Bến Cát và Chi cục THADS thị xã Bến Cát).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Q phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/01/2024).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ