- Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Trần Bích L1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Lê Mạnh C2 và Nguyễn Long H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày : 06/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Nguyễn Tấn Nghiệp
2/. Bà Bùi Thị Minh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. TRẦN BÍCH LOAN, sinh năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 471/25/34 P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: T (chết) và bà: Nguyễn Thị V; Chồng, con: Không có; Nhân thân: Quyết định số 53/QĐ-TA ngày 14/4/2015 Tòa án nhân dân quận Tân Bình đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: 29/7/2023. Có mặt.
2. LÊ MẠNH C, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 130 L, phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Ngọc T và bà: Nguyễn Thị Q; Vợ, con: không có; Nhân thân: Bản án số 139/2016/HSST ngày 30/5/2016 Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định số 79/QĐ-TA ngày 20/5/2019 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, Quyết định số 166/QĐ-TA ngày 19/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng, chấp hành xong ngày 20/02/2023, Quyết định số 34/QĐ-UBND của U, quận T quản lý sau nghiện ma túy tại nơi cư trú thời gian từ ngày 26/01/2023 đến ngày 26/01/2024; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: 29/7/2023. Có mặt.
3. NGUYỄN LONG H, sinh năm 1982 tại Vĩnh Long; Nơi đăng ký thường trú: 766/65 C, phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L và bà: Nguyễn Thị C1 (chết); Vợ, con: không có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: 29/7/2023. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Hồng D, địa chỉ 1 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
2. Ông Giang Chút P, sinh năm 1954; địa chỉ: 2 L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 29/7/2023, tại trước địa chỉ số A C, Phường G, quận T, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an P1 quận T phát hiện bắt quả tang Lê Mạnh C2 và Nguyễn Long H1 cất giấu trái phép chất ma túy; thu giữ trong túi áo phía trước bên trái của Lê Mạnh C2 đang mặc có 01 gói giấy màu xanh, bên trong có 02 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu chứa bột màu trắng (mẫu m4). Tại bản Kết luận giám định số 8383/KL-KTHS ngày 07/8/2023 của Phòng K, Công an Thành phố H kết luận: mẫu m4 có khối lượng 0,1384 gam là ma túy thể rắn, loại Heroin. Lê Mạnh C2 và Nguyễn Long H1 khai đã thỏa thuận mỗi người hùn 100.000 đồng để mua ma túy sử dụng nên khoảng 21 giờ 20 phút ngày 29/7/2023, C2 chạy xe máy biển số 53S1-2060 chở H1 đến giao lộ B - C, Phường G, quận T mua 02 tép heroin giá 200.000 đồng của một người phụ nữ tóc ngắn mặc áo thun màu đen có in hình đôi cánh, chỗ ở tại khách sạn T1, số A C, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua truy xét, vào lúc 22 giờ ngày 29/7/2023, tại sảnh khách sạn T1, địa chỉ số A C, Phường G, quận T, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an P1, quận T phát hiện bắt quả tang Trần Bích L1 cất giấu trái phép chất ma túy; thu giữ trên tay phải của Trần Bích L1 đang cầm một hộp giấy màu xanh in chữ “Hoàng Hường care medic”, bên trong có 01 gói nylon chứa bột màu trắng (mẫu m1) và một túi vải màu đen bên trong có 10 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu chứa bột màu trắng (mẫu m2); Thu giữ trong túi phía trước bên phải quần của Trần Bích L1 đang mặc có 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu chứa bột màu trắng (mẫu m3). Tại bản Kết luận giám định số 8383/KL-KTHS ngày 07/8/2023 của Phòng K, Công an Thành phố H kết luận: mẫu m1 có khối lượng 0,0765 gam là ma túy ở thể rắn, loại Heroin; mẫu m2 có khối lượng 0,8463 gam là ma túy ở thể rắn, loại Heroin; mẫu m3 có khối lượng 0,1433 gam là ma túy ở thể rắn, loại Heroin.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Mạnh C2, Nguyễn Long H1 và Trần Bích L1 khai nhận như sau: Thông qua bạn bè ngoài xã hội, Lê Mạnh C2, Nguyễn Long H1 và Trần Bích L1 quen biết nhau. L1 đã bán ma túy loại heroin cho C2 02 lần. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 26/7/2023, C2 chạy xe máy một mình đến đầu hẻm A C, Phường G, quận T gặp L1 mua 01 tép heroin giá 100.000 đồng, C2 sử dụng một mình hết số ma túy trên. Nguồn gốc ma túy heroin, L1 mua của người phụ nữ (không rõ lai lịch) tại Quận H.
Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 29/7/2023, L1 một mình chạy xe máy biển số 52H2-5063 đến B gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) mua 01 gói nylon chứa heroin với giá 800.000 đồng. L1 đem gói heroin về phòng 102, khách sạn T1, địa chỉ số A C, Phường G, quận T, L1 phân gói ma túy heroin thành 14 tép (đoạn ống hút bằng nhựa hàn kín 2 đầu) và 01 gói nhỏ. L1 cất toàn bộ số ma túy heroin mới vừa phân để bán trong hộp giấy màu xanh có in chữ “Hoàng H2 care medic”. Đến khoảng 21 giờ 15 phút, L1 nhận được điện thoại 058 3827992 của C2 hỏi mua 200.000 đồng heroin. L1 đi bộ đến ngã ba B - C thì gặp C2 chở H1 đến, L1 bán cho C2 2 tép heroin với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, L1 lấy 02 tép heroin cất vào trong túi phía trước bên phải quần của L1 đang mặc và cầm theo hộp giấy màu xanh in chữ “Hoàng H2 care medic” bên trong có 01 gói nylon heroin và 01 túi vải màu đen bên trong có 10 tép heroin đi ra khỏi phòng đến trước quầy tiếp tân để đi bán ma túy thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang ngày 29/7/2023.
Vật chứng vụ án:
- 03 gói niêm phong còn nguyên vẹn, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Xuân S, ghi số 1670/23 G1, 1670/23 G2, 1670/23 G3 (ma túy còn lại sau giám định).
- Số tiền 200.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia và 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Trần Bích L1.
- 01 điện thoại di động màu đỏ thu giữ của Lê Mạnh C2.
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Dream biển số 53S1-2060, có số khung: VMEPCG – 00221 - 072159, số máy: SD071063, thu giữ của Lê Mạnh C2. Qua kết luận giám định số 6755/KL-KTHS ngày 06/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, xe không bị đục lại số khung và số máy. Xác minh số khung: VMEPCG – 00221 - 072159, số máy SD071063 có biển số 59P2-627.25, người đăng ký xe là Nguyễn Hồng D, địa chỉ 1 T, Phường A, quận T, hiện Nguyễn Hồng D không còn cư ngụ tại địa chỉ trên. Lê Mạnh C2 khai mua xe tại một tiệm sửa xe trên đường C vào tháng 04/2023, không có giấy đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe máy có số khung, số máy trên nhưng chưa có kết quả.
- 01 xe gắn máy hiệu SYM biển số: 52H2 – 5063, có số khung: VDNF – M90A4R – 700089, số máy: HY700089, thu giữ của Trần Bích L1. Qua kết luận giám định số 6755/KL-KTHS ngày 06/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, xe gắn máy biển số 52H2 – 5063 không bị đục lại số khung và số máy. Trần Bích L1 khai xe của bạn tên H1 (không nhớ rõ lai lịch) đã cho L1 vào tháng 6/2023. Qua xác minh, người đăng ký xe là Giang Chút P - địa chỉ: 2 L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, qua xác minh hiện G Chút Phí không còn cư ngụ tại địa chỉ trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe máy trên nhưng chưa có kết quả.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Trần Bích L1 không rõ lai lịch, địa chỉ và số điện thoại nên Cơ quan điều tra Công an quận T không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 22 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Trần Bích L1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo Lê Mạnh C2 và Nguyễn Long H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Bích L1 từ 07 năm đến 08 năm tù, bị cáo Lê Mạnh C2 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Long H1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Trần Bích L1, Lê Mạnh C2 và Nguyễn Long H1, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Mạnh C2 và Nguyễn Long H1 đã có hành vi cất giấu 0,1384 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng, đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Trần Bích L1 đã có hành vi cất giấu 1,0661 gam ma túy ở thể rắn loại Heroin, nhằm mục đích để bán kiếm lời, trước đó bị cáo đã có hai lần bán ma túy loại heroin cho bị cáo Lê Mạnh C2 vào ngày 26/7/2023 và ngày 29/7/2023 (bán 0,1384 gam ma túy loại Heroin), đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên, mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm. Bản thân các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, việc mua bán trái phép chất ma túy và trái phép chất ma túy là gieo rắc hiểm họa cho cộng đồng, vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì động cơ tham lam, hám lợi và chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Xét nhân thân bị cáo L1 và C2 là xấu, các bị cáo đã bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không lấy làm bài học cho bản thân mà lại cố tình phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về vật chứng vụ án:
- 03 gói niêm phong còn nguyên vẹn, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S, ghi số 1670/23 G1, 1670/23 G2, 1670/23 G3 (ma túy còn lại sau giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
- Số tiền 200.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia thu giữ của bị cáo L1, xét thấy số tiền 200.000 đồng là bị cáo có được từ việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, còn 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia là tài sản cá nhân của bị cáo và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động màu đỏ thu giữ của bị cáo C2 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của bị cáo L1, xét thấy các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước.
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Dream biển số 53S1-2060, có số khung: VMEPCG – 00221 - 072159, số máy: SD071063 thu giữ của bị cáo C2 và 01 xe gắn máy hiệu SYM biển số: 52H2 – 5063, có số khung: VDNF – M90A4R – 700089, số máy: HY700089 thu giữ của bị cáo L1. Xét thấy các xe gắn máy trên có nguồn gốc chưa rõ ràng, cần giao Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời gian 01 năm, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Bích L1;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lê Mạnh C2 và Nguyễn Long H1;
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố bị cáo Trần Bích L1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Lê Mạnh C2 và Nguyễn Long H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Trần Bích L1 08 (tám) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 7 năm 2023.
- Xử phạt: Lê Mạnh C2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 7 năm 2023.
- Xử phạt: Nguyễn Long H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 7 năm 2023.
[2] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu và tiêu hủy: 03 gói niêm phong còn nguyên vẹn, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S, ghi số 1670/23 G1, 1670/23 G2, 1670/23 G3 (ma túy còn lại sau giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, 01 điện thoại di động màu đỏ và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh.
Trả lại cho bị cáo Trần Bích L1 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia, tình trạng bị hư hỏng.
- Giao Chi cục thi hành án dân sự quận T đăng báo tìm chủ sở hữu 01 xe gắn máy hiệu Honda biển số 53S1-2060, có số khung: VMEPCG – 00221 - 072159, số máy: SD071063 và 01 xe mô tô biển số: 52H2 – 5063, có số khung: VDNF – M90A4R – 700089, số máy: HY700089 trong thời gian 01 năm, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 63/BB/2024 ngày 06/3/2024 của giữa Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình và Giấy nộp tiền số No 9639389 ngày 03/10/2023 tại Ngân hàng TMCP C3 Chi nhánh A - Thành phố Hồ Chí Minh).
[3] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QL,NV liên quan; - Công an quận Tân Bình; - VKSND quận Tân Bình; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND, VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Long |