- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thế Trung - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S-TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày 26/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Trọng Bằng
Ông Chảo Láo Lủ
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Lương Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với:
Bị cáo Đỗ Xuân Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/05/1960 tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Tổ 1, phường Ô Quý Hồ, thị xã S, tỉnh Lào Cai; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: + Ngày 22/06/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sa Pa (nay là thị xã S) xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/08/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2020, đến nay đã được xoá án tích; + Ngày 12/9/2011, bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 624/QĐ-UBND của UBND huyện Sa Pa (nay là thị xã S), bị cáo đã chấp hành xong, đến nay đã được xoá tiền sự.
Con ông Đỗ Xuân Hồ (tên gọi khác Đỗ Xuân Hỗ, đã chết) và bà Hoàng Thị Khánh (tên gọi khác Hoàng Thị Chuột, đã chết). Vợ là Nguyễn Thị Mão, sinh năm 1963, hiện trú tại Tổ 1, phường Ô Quý Hồ, thị xã S. Bị can có 02 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1997.
Bị cáo Đỗ Xuân Đ bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/3/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 50 phút ngày 30/03/2024, Tổ công tác Công an thị xã S làm nhiệm vụ tại khu vực đường Võ Thị Sáu, thuộc Tổ 3, phường Sa Pa, thị xã S phát hiện Đỗ Xuân Đ (sinh năm 1960, trú tại Tổ 1, phường Ô Quý Hồ, thị xã S) đang đi bộ trên đường, có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma tuý, nên đã mời về Trụ sở Công an phường Sa Pa để làm việc. Tại đây, Tổ công tác mời bà Lê Thị Hoà (sinh năm 1950, trú tại Tổ 3, phường Sa Pa, thị xã S) làm người chứng kiến, để tiến hành kiểm tra đối với Đỗ Xuân Đ. Tiến hành kiểm tra, Đỗ Xuân Đ tự lấy từ túi quần bên phải, phía trước, đang mặc trên người ra 02 (hai) gói giấy màu trắng có in chữ màu đen, bên trong chứa các cục bột khô, màu trắng và khai nhận là Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo đúng quy định
Về nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ Đỗ Xuân Đ khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 29/03/2024, Đỗ Xuân Đ đi taxi từ nhà riêng tại Tổ 1, phường Ô Quý Hồ, thị xã S xuống thành phố Lào Cai, để ngày hôm sau khám bệnh. Khi đi đến khu vực xã Cốc San, thành phố Lào Cai, Đỗ Xuân Đ nảy sinh ý định mua Heroine về để sử dụng cho bản thân, do nghe một số người nghiện ma túy nói ở khu vực này thường xuyên có người bán ma túy nên Được yêu cầu lái xe dừng tại khu vực đường quốc lộ 4D, xã Cốc San rồi xuống xe. Tại đây, Được gặp một người đàn ông chạy xe ôm (Được không biết nhân thân, lai lịch) nên tiến lại hỏi: “Có mua được ma tuý không?”, người này trả lời: “Có, mua bao nhiêu?”, Được đưa người lái xe ôm 100.000 đồng và nói “Mua cho 100.000 đồng”. Khoảng 15 phút sau, người lái xe ôm quay lại và đưa cho Được 02 (hai) gói giấy bên trong có chứa ma tuý Heroine, Được nhận ma túy, cho vào túi quần bên phải đang mặc trên người rồi lên taxi quay về nhà tại thị xã S. Sáng ngày 30/03/2024, khi Đỗ Xuân Đ đang đi bộ tại đường Võ Thị Sáu thuộc Tổ 3, phường Sa Pa, thị xã S thì bị kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật.
Tại bản kết luận giám định số 140/KL-GĐMT ngày 04/04/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: “0,205 gam các cục bột khô, màu trắng gửi giám định là loại chất ma tuý Heroine”.
Cáo trạng số 27/CT-VKSSP ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S đã truy tố bị cáo Đỗ Xuân Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Xuân Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết luận điều tra của cơ quan điều tra và bản cáo trạng viện kiểm sát đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,143 gam được tái niêm phong trong (một) bì thư được niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai; Trên một mặt tại mép dán của bì niêm phong có chữ ghi rõ họ tên của Đặng Minh Đổng, Trần Ngọc Dũng, Lương Mạnh Hùng, Đỗ Xuân Đ và 02 hình dấu thu nhỏ màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và được dán phủ bằng một lớp băng dính trong suốt. Mặt còn lại của bì thư có dòng chữ “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Đỗ Xuân Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” xảy ra ngày 30/3/2024 tại tổ 3, phường Sa Pa, thị xã S, tỉnh Lào Cai”. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo; Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đỗ Xuân Đ nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, cơ quan truy tố điều tra viên; kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung:
Về xác định tội phạm và áp dụng pháp luật: Ngày 29/03/2024, Đỗ Xuân Đ đi taxi từ nhà riêng tại Tổ 1, phường Ô Quý Hồ, thị xã S xuống thành phố Lào Cai, để ngày hôm sau khám bệnh. Khi đi đến khu vực xã Cốc San, thành phố Lào Cai, Đỗ Xuân Đ nảy sinh ý định mua Heroine về để sử dụng cho bản thân, do nghe một số người nghiện ma túy nói ở khu vực này thường xuyên có người bán ma túy nên Được gặp một người đàn ông chạy xe ôm mua cho 100.000 đồng được 02 gói ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, cũng như các lời khai khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ 0,205 gam ma túy Heroine của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Đỗ Xuân Đ là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật, do bản thân là người nghiện nên bị cáo Đỗ Xuân Đ cố ý thực hiện hành vi mua 0,205 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, vì vậy Đỗ Xuân Đ phải chịu trách nhiệm với hành vi “Tàng trữ phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thị xã S, vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, Ngày 22/06/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sa Pa (nay là thị xã S) xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/08/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2020, đến nay đã được xoá án tích.
+ Ngày 12/9/2011, bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 624/QĐ-UBND của UBND huyện Sa Pa (nay là thị xã S), bị cáo đã chấp hành xong, đến nay đã được xoá tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có mẹ đẻ là Hoàng Thị Khánh (tên gọi khác Hoàng Thị Chuột) được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,143 gam Heroine còn lại sau trích mẫu. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đỗ Xuân Đ không có tài sản riêng không áp dụng hình phạt bổ sung.
Vấn đề khác:
Đối với người đàn ông lái xe ôm đã bán ma túy cho Đỗ Xuân Đ tại xã Cốc San, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Ngoài lời khai của bị cáo Được ra, Cơ quan điều tra không có căn cứ nào khác để xác minh nhân thân, lai lịch của người này nên không đề cập xử lý, xét thấy là có căn cứ.
Đối với người lái xe taxi chở bị cáo ra thành phố Lào Cai, trên đường đi bị cáo đã thực hiện hành vi mua chất ma tuý để sử dụng cho bản thân. Bản thân người lái xe không biết và liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân Đ 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ bị bắt tạm giữ ngày 30/3/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy 0,143 gam Heroine trong 01 (một) bì thư được niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai; Trên một mặt tại mép dán của bì niêm phong có chữ ghi rõ họ tên của Đặng Minh Đổng, Trần Ngọc Dũng, Lương Mạnh Hùng, Đỗ Xuân Đ, và 02 hình dấu thu nhỏ màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và được dán phủ bằng một lớp băng dính trong suốt. Mặt còn lại của bì thư có dòng chữ “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Đỗ Xuân Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” xảy ra ngày 30/3/2024 tại tổ 3, phường Sa Pa, thị xã S, tỉnh Lào Cai”.
(Vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2024)
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đỗ Xuân Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đỗ Xuân Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai (1); - VKSND tỉnh Lào Cai (1); - VKSND thị xã S (1); - Công an thị xã S(2); - Phòng PV06, PV10 Công an tỉnh Lào Cai(2) - Bị cáo (1); - THA DS thị xã S(1); - HS THA HS (1); - Sở tư pháp (1); - Lưu văn phòng (1); Lưu hồ sơ (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Dung |