vanban.org

Bản án 31/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 29/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

(đặc điểm tang vật như biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/2/2024). Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày 29 tháng 02 năm 2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Vân Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Quang Thái;

- Bà Lê Thị Bích Thuần.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Đại, Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thịnh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/HS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 18/2024/HSST- QĐ ngày 16 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:

Vàng Văn H, sinh ngày 08/9/1998, tại Lai Châu; nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dáy; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Văn K và bà Vàng Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Kim Hồng Thanh- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vàng Văn H là đối tượng nghiệm ma túy từ đầu năm 2023. Buổi sáng ngày 18/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H một mình đi đến khu vực

1

Cầu Chui thuộc xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy. Tại đây H gặp nam giới tự giới thiệu tên H1 (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) rủ H góp tiền đi mua ma túy về để cả 02 cùng sử dụng. H đồng ý và đưa cho H1 số tiền 100.000 đồng rồi đứng đợi ở ven đường còn H1 điều khiển xe đi mua ma túy. Khoảng 10 phút sau, H1 quay lại và đưa cho H 01 vỏ bao thuốc lá “555” bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất bột cục màu trắng để cất giấu rồi cả hai điều khiển xe đi đến hiệu thuốc Thanh Xuân thuộc thôn Nhân Nghĩa, xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên mua xilanh để sử dụng ma túy. Khi đi đến trước cửa hiệu thuốc thì H1 nói là đi có việc và bảo H vào mua xilanh rồi H1 sẽ quay lại đón. Khi H đi vào hiệu thuốc thì Tổ Công tác của Công an huyện Bình Xuyên thấy nghi vấn kiểm tra, phát hiện thu giữ tại bàn tay trái của H đang cầm 01 vỏ bao thuốc lá “555” bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất bột cục màu trắng. Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng: 01 gói giấy bạc có chứa chất bột cục màu trắng được đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá “555”, niêm phong trong bì thư ký hiệu A; 01 xilanh, 01 lọ nước cất và số tiền 10.000đ để điều tra, xử lý theo luật định.

Cơ quan điều tra đã Trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định trọng lượng, chủng loại mẫu vật A thu giữ được của Vàng Văn H. Tại bản Kết luận số 3431/KLGĐ ngày 22/12/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1514g, loại Heroine”.

Hoàn trả đối tượng sau giám định gồm: A= 0,1148gam mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong trong bao giấy gói “mẫu trả”.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với số vật chứng của vụ án gồm: đối tượng sau giám định gồm: A= 0,1148gam mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong trong bao giấy gói “MẪU TRẢ” do Cơ quan giám định hoàn trả là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 xi lanh, 01 lọ nước cất và 01 vỏ bao thuốc lá “555” không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

Đối với số tiền 10.000 đồng xác định là tài sản của H không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho H nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với đối tượng nam giới tự giới thiệu tên H1 đã đưa cho H gói ma túy ngày 18/12/2023. Do H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của H1 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.

2

Tại Cáo trạng số: 25/CT-VKSBX ngày 01/2/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố bị cáo Vàng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vàng Văn H vẫn khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vàng Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: tịch thu tiêu hủy đối tượng sau giám định gồm: A= 0,1148gam mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong trong bao giấy gói “MẪU TRẢ” do Cơ quan giám định hoàn trả là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 xi lanh, 01 lọ nước cất và 01 vỏ bao thuốc lá “555” không còn giá trị sử dụng; Trả lại cho bị cáo 10.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Người bào chữa cho bị cáo H có quan điểm: Bị cáo H là người dân tộc thiểu số, ở vùng đặc biệt khó khăn. Bản thân bị cáo trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án nhẹ nhất cho bị cáo đẻ sớm trở về với gia đình và xã hội.

Bị cáo Vàng Văn H không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; phù hợp về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội; phù hợp với vật chứng đa thu giữ

̃ , với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

3

Khoảng 08 ngày 18/12/2023 tại khu vực trước cửa hiệu thuốc Thanh Xuân thuộc thôn Nhân Nghĩa, xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, Vàng Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy có khối lượng 0,1514g loại Heroine để sử dụng thì bị Tổ Công tác của Công an huyện Bình Xuyên phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vàng Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”…

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần pH xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 05 năm tù nên theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng không chịu tu chí làm ăn, chơi bời nghiện hút. Hiện tại trên địa bàn huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo pH chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã

4

“Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng: Đối với đối tượng sau giám định gồm: A= 0,1148gam mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong trong bao giấy gói “MẪU TRẢ” do Cơ quan giám định hoàn trả là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 xi lanh, 01 lọ nước cất và 01 vỏ bao thuốc lá “555” không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với số tiền 10.000 đồng xác định là tài sản của H không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho H nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Vàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vàng Văn H 01 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/12/2023).

Căn cứ khoản 1Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tịch thu tiêu hủy đối tượng sau giám định gồm: A= 0,1148gam mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong trong bao giấy gói “MẪU TRẢ” do Cơ quan giám định hoàn trả là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 xi lanh, 01 lọ nước cất và 01 vỏ bao thuốc lá “555” không còn giá trị sử dụng; trả lại cho bị cáo H số tiền 10.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

5

(đặc điểm tang vật như biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/2/2024).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vàng Văn H pH chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ