- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2024/HNGĐ - ST Ngày 22 - 5- 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Thế Hải
Bà Nguyễn Thị Sen
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST –HNGĐ ngày 25/4/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đậu Thị N, sinh năm 1987 Nơi cư trú: thôn X, xã A, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1987 Nơi cư trú: thôn X, xã A, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt chị N; anh D vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đậu Thị Nguyệt trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 12/01/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, đến tháng 5 năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không thể hòa hợp được và không có hạnh phúc, từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh D.
Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/01/2012 và Nguyễn Yến C, sinh ngày 04/4/2018, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu T ở với bố và bà nội, cháu C ở với chị. Khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C, giao cháu T cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn D: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh D, do anh D không có mặt tại gia đình, nên Tòa án tống đạt thông qua mẹ đẻ anh D là bà Vũ Thị L, bà L nhận và cam đoan sẽ thông báo và giao lại các văn bản tố tụng cho anh D.
Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh D, theo biên bản xác minh ngày 23/02/2024 xác định: Quá trình chung sống vợ chồng chị N, anh D có mâu thuẫn, vợ chồng không hạnh phúc nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, anh D hay ghen tuông.
Tòa án tiến hành xác minh tại gia đình anh D, mẹ anh D là bà Vũ Thị L, cho biết: anh D và chị N kết hôn năm 2011 sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình bà, quá trình chung sống những năm gần đây vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, hiện tại anh D và chị N đang sống ly thân; anh D và chị N có hai con chung Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/01/2012 và Nguyễn Yến C, sinh ngày 04/4/2018, hiện nay cháu T đang ở với anh D và bà nội, cháu C đang ở với chị N, nếu ly hôn anh D có nguyện vọng được nuôi cháu T; về tài sản vợ chồng không có tài sản chung. Việc chị N yêu cầu ly hôn và Tòa án thụ lý giải quyết anh D đã biết, nhưng do anh bận đi làm thỉnh thoảng mới về nhà nên anh có nói là việc giải quyết ly hôn như thế nào là việc của cô N.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đậu Thị N. Về hôn nhân giải quyết cho chị N được ly hôn anh D; Về con chung: giao cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/01/2012 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Yến C, sinh ngày 04/4/2018 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét; Về tài sản chung: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị và anh D; anh D cư trú tại xã A, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; chị N đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh D: Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh D trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh D. Anh D đã biết việc chị N yêu cầu ly hôn, nhưng không đến Tòa án để giải quyết, không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị N, thể hiện anh D không tha thiết níu kéo hạnh phúc gia đình với chị N.
Tòa án tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh D xác định trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn.
Căn cứ vào trình bày của chị N và kết quả xác minh có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa chị N và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị N và anh D có 02 con chung là Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/01/2012 và Nguyễn Yến C, sinh ngày 04/4/2018, hiện nay cháu T đang ở với anh D và bà nội, cháu C đang ở với chị N. Khi ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C, giao cháu T cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng.
HĐXX xét thấy chị N và anh D có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con, cháu C còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ, cháu T có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị N giao cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/01/2012 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Yến C, sinh ngày 04/4/2018 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung chị N không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị N khởi kiện vụ án ly hôn, không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đậu Thị N:
- Về hôn nhân: Chị Đậu Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/01/2012 cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Yến C, sinh ngày 04/4/2018 cho chị Đậu Thị Nguyệt trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị N và anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Đậu Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0006881 ngày 28/11/2023.
4. Quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã Nghi Sơn; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn; - UBND xã A; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Sơn |