vanban.org

Bản án 31/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-01-2024
V/v: Ly hôn giữa ông Tr K H
Và bà Ng T T H

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Bảy.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Hiệp

2. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thùy Vân- Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền– Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 590/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 143/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/12/2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Tr K H, sinh năm 1986

Địa chỉ: 743/31N H B, Phường Y, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh,

2. Bị đơn: Bà Ng T T H, sinh năm: 1986

Địa chỉ: 743/31N H B, Phường Y, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh

Các đương sự vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Tr K H trình bày:

Ông Tr K H và bà Ng T T H chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường Y, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số XX, Quyển số XX/2012 ngày XX tháng XX năm 2012.

Trong thời gian chung sống ông H và bà H phát sinh mâu thuẫn về quan điểm sống không hợp nhau, thường xuyên cãi vã và vợ chồng đã sống ly thân nhiều tháng nay. Nhận thấy vợ chồng xa cách không có sự quan tâm chăm sóc nhau, không còn tình cảm nên ông Tr K H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Ng T T H. Quá trình chung sống ông Tr K H và bà Ng T T H có 02 con chung tên Tr Q P, sinh ngày 24/7/2012 và Tr Q P1, sinh ngày 14/9/2016. Ông Tr K H xin nuôi 02 con chung và không yêu cầu bà Ng T T H cấp dưỡng nuôi con. Vợ chồng không có tài sản chung, về nợ chung ông Tr K H tự khai không có.

Bị đơn: Bà Ng T T H vắng mặt; Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đến tòa để làm Bản tự khai, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Ng T T H đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không lấy được lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị đơn bà Ng T T H vắng mặt. Nguyên đơn ông Tr K H có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung, xét thấy các bên đã mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc sống ly thân, các bên không còn tình cảm với nhau, không muốn tiếp tục chung sống nên căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao 02 con chung tên Tr Q P, sinh ngày 24/7/2012 và Tr Q P1, sinh ngày 14/9/2016 cho ông Tr K H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông H không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung; về nợ chung: ông H tự khai không có nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Vụ án thuộc trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Bị đơn có nơi cư trú tại Quận 6 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại các điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung:

- Ông Tr K H và bà Ng T T H chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường Y, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số XX, Quyển số XX/2012, ngày XX tháng XX năm 2012. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân nhiều tháng nay, nguyên nhân do không cùng chung quan điểm sống, luôn bất đồng ý kiến, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau, hai bên cũng đã tự hòa giải, hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả. Sau thời gian dài ly thân, nay ông Tr K H xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà Ng T T H, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Ng T T H

Xét thấy: Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự nhưng bà Ng T T H không đến tòa, ông Tr K H xin vắng mặt vì bận việc gia đình. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được.

Tại Bản tự khai ngày 26/10/2023, ông Tr K H trình bày ông Tr K H và bà Ng T T H phát sinh nhiều mâu thuẫn và hiện nay không còn tình cảm với bà Ng T T H và yêu cầu ly hôn với bà Ng T T H. Tòa án xét thấy mâu thuẫn giữa ông Tr K H và bà Ng T T H đã gay gắt, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài. Do đó, yêu cầu của ông Tr K H xin ly hôn với bà Ng T T H là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Ông Tr K H yêu cầu được nuôi 02 con chung tên Tr Q P, sinh ngày 24/7/2012 và Tr Q P1, sinh ngày 14/9/2016. Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn, ông H đang trực tiếp nuôi con và nguyện vọng của trẻ muốn ở cùng cha nên nhận thấy yêu cầu của ông Tr K H là phù hợp với quy định pháp luật và nguyện vọng của trẻ nên được chấp nhận. Ông Tr K H không yêu cầu bà Ng T T H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: ông Tr K H tự khai không có, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí: Ông Tr K H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các điều 51, 56, 57, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Luật phí và lệ phí.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Tr K H

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Tr K H được ly hôn với bà Ng T T H

Giấy chứng nhận kết hôn số XX, Quyển số XX/2012 do Ủy ban nhân dân Phường Y, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày XX tháng XX năm 2012 không còn hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Tr Q P, sinh ngày 24/7/2012 và Tr Q P1, sinh ngày 14/9/2016 cho ông Tr K H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Tr K H không yêu cầu bà Ng T T H cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: ông Tr K H tự khai không có.

- Về nợ chung: ông Tr K H tự khai không có.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Tr K H phải chịu là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông Tr K H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0038417 ngày 12/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 6. Ông Tr K H đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ