vanban.org

Bản án 31/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị K và anh Nguyễn Ngọc C.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Minh A, sinh ngày 30/8/2015 cho anh Nguyễn Ngọc C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên. Chị Trần Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con cho anh C. Hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị K - Nguyễn Ngọc C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị K và anh Nguyễn Ngọc C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17-4-2024
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung giữa
chị K và anh C”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Bình;

Ông Phạm Văn Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

- i i n i n ki m s t nh n n hu n am T c t nh am nh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, Toà án nhân dân huyện Nam Trực xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị K, sinh năm 1997; Hộ khẩu thường trú: Thôn N (thôn D cũ), xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: tổ E, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định;

Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn N (thôn D cũ), xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

(Chị K, anh C xin xét xử vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 25-10-2023 và bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị K và anh Nguyễn Ngọc C đăng ký kết hôn ngày 27/11/2014 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng bố mẹ anh C. Quá trình chung sống vợ chồng không hòa thuận hạnh phúc, nguyên nhân là do không có tiếng nói chung, anh C chơi bời và có tình cảm với người khác. Chị K và bố mẹ có khuyên bảo nhưng anh C không nghe nên vợ chồng hay xích mích, cãi chửi nhau. Từ tháng 10/2023 chị K đã về nhà bố mẹ đẻ để ở và vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị K nhận thấy tình cảm của chị đối với anh C không còn nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Minh A, sinh ngày 30/8/2015. Hiện nay con chung đang ở cùng anh C. Khi ly hôn, anh C tiếp tục nhận nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con hai bên sẽ tự thỏa thuận vì anh C muốn nhận nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị K xác nhận vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc C có lời khai phù hợp với lời khai của chị K về thời gian vợ chồng kết hôn, chung sống và thời gian ly thân. Theo anh C, sau khi cưới vợ chồng sống bình thường cùng với bố mẹ đẻ anh C đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách quan điểm sống không hợp và vợ chồng không quan tâm đến nhau. Từ tháng 11/2023 vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị K làm đơn xin ly hôn, anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cũng nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh C có lời khai thống nhất với chị K về con chung. Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Minh A, sinh ngày 30/8/2015. Hiện nay con chung đang ở cùng ông bà nội, khi ly hôn anh đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh C có lời khai thống nhất với lời khai của chị K, vợ chồng không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị K và anh C đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.

Qua xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của chị K và anh C tại nơi cư trú: Đại diện Ủy ban nhân dân xã N cho biết anh Nguyễn Ngọc C có đăng ký kết hôn với chị Trần Thị K vào ngày 27/11/2014 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống, anh C và chị K có mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào và từ đâu địa phương không nắm rõ. Vợ chồng có 01 con chung, hiện nay con chung đang ở cùng anh C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tại phiên tòa phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị K và anh Nguyễn Ngọc C.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Minh A, sinh ngày 30/8/2015 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh C không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị K và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị K phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị K và anh Nguyễn Ngọc C có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị K, anh C là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Trần Thị K và anh Nguyễn Ngọc C là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 27/11/2014. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2023 cho đến nay. Nay chị K xin ly hôn, anh C xác định vợ chồng không còn tình cảm nên cũng nhất trí ly hôn để giải phóng cho nhau.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị K đối với anh C, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị K và anh C là có thật, việc mâu thuẫn xuất phát từ việc giữa chị K và anh C tính tình và quan điểm sống không hợp, không có tiếng nói chung, anh C chơi bời và có tình cảm với người khác. Chị K và bố mẹ có khuyên bảo nhưng anh C không nghe nên vợ chồng hay xích mích, cãi chửi nhau. Chị K đã về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm với nhau từ cuối năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, hai bên không có biện pháp, hành động nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của vợ chồng tiếp tục tồn tại. Quá trình giải quyết vụ án chị K đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và cho chị được ly hôn với anh C. Anh C cũng xác định không còn tình cảm với chị K nên anh cũng nhất trí ly hôn. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị K, cho chị K được ly hôn anh C là phù hợp quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Minh A, sinh ngày 30/8/2015. Từ khi vợ chồng ly thân con chung đang ở cùng ông bà nội, ly hôn anh C đề nghị được nuôi con chung. Xét điều kiện hoàn cảnh, nguyện vọng của hai bên và nguyện vọng của con chung thì thấy: Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, con chung do anh C1 và bố mẹ anh C nuôi dưỡng, chăm sóc và việc sinh hoạt, học tập của con vẫn đảm bảo, cháu Minh A có ý kiến muốn ở cùng anh C. Anh C đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con. Chị K có ý kiến khi ly hôn chị nhường quyền nuôi con cho anh C do anh C nhận nuôi con. Mặt khác, qua xác minh tại địa phương nơi cư trú của anh C và chị K từ khi vợ chồng sống ly thân con chung đang được anh C chăm sóc nuôi dưỡng. Từ những phân tích trên, cần chấp nhận đề nghị xin được nuôi con chung của anh C, tiếp tục giao cháu Nguyễn Minh A cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng và không buộc chị K cấp dưỡng nuôi con cho anh C (do anh C không yêu cầu) là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị K, anh C xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị K phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị K và anh Nguyễn Ngọc C.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Minh A, sinh ngày 30/8/2015 cho anh Nguyễn Ngọc C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên. Chị Trần Thị K không phải cấp dưỡng nuôi con cho anh C. Hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Chị Trần Thị K phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0004951 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực. Chị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. ơi nhận:

Cỡ chữ