vanban.org

Bản án 31/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về trách nhiệm hình sự: Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17-11-2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T bị truy tố và xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------
Bản án số: 31/2023/HSST
Ngày 14 tháng 3 năm 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tân

Bà Phạm Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2023/HSST ngày 17 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1990; ĐKHKTT: thôn Tr, xã S, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Lã Thị D, sinh năm 1959. Vợ, con: chưa có.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án số 67/2015/HSST ngày 22/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Văn T 07 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/3/2021.

Nhân thân: Quyết định số 113 ngày 06/8/2009 của Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt: 200.000đồng, đã nộp tiền ngày 11/3/2009.

Biện pháp ngăn chặn: Bị tạm giữ từ ngày 17/11/2022 đến ngày 20/11/2022 chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Thế N và anh Nguyễn Lê Th; Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20h00’ ngày 17/11/2022, Trần Văn T có gặp một người bạn xã hội mới quen tên là Quyền (không rõ địa chỉ cụ thể) ở khu vực siêu thị Big C, phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Q rủ T đi mua ma túy Heroine để cùng sử dụng. T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe máy của Quyền (T không nhớ đặc điểm và biển số xe) chở Q đến khu vực đường tàu thuộc phường Quán Toan, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng mục đích tìm mua ma túy Heroine để sử dụng. Tại đây, T và Quyền gặp một người đàn ông không quen biết và mua của người này 01 gói ma túy Heroine với số tiền 500.000đồng. Quyền là người trả tiền mua ma túy. Sau đó, Q cầm gói ma túy đưa cho T, T cất gói ma túy vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi điều khiển xe máy chở Q về thành phố Hải Dương. Trên đường về đến khu vực vắng người (T không biết địa chỉ cụ thể), dừng xe và lấy gói ma túy Heroine ra và cùng Quyền sử dụng một ít bằng cách cho ma túy vào bơm kim tiêm đã chuẩn bị trước đó và tiêm trực tiếp vào trong cơ thể. Số ma túy còn lại T cất vào trong túi quần. Sau đó Quyền điều khiển xe máy chở T về thành phố Hải Dương. Đến khoảng 22 giờ 00’ cùng ngày, khi Quyền và T đi đến khu vực KM 58+900 Quốc lộ 5A (hướng Hải Phòng đi Hà Nội), phường Ái Quốc, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương thì bị Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Dương kết hợp Trạm kiểm soát giao thông ngã ba hàng Công an tỉnh Hải Dương trong khi làm nhiệm vụ kiểm tra, T vừa xuống xe thì Quyền tăng ga bỏ chạy. Thấy vậy, T lấy trong túi quần bên trái đang mặc 01 gói giấy màu trắng có chữ viết, có kích thước khoảng (1x2)cm, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng vứt xuống dưới đất ngay sát chân T, T khai nhận là Heroine và 01 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ 01 gói giấy màu trắng có chữ viết, có kích thước khoảng (1x2)cm, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng và 01 bơm kim tiêm trước sự chứng kiến của anh Trần Thế Nội và anh Nguyễn Lê Thắng.

Tại Kết luận giám định số 587/KL-KTHS ngày 20/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận:

Chất bột dang cục màu trắng được niêm phong trong phong bì, ghi thu của Trần Văn T, gử i đến giám đi ̣nh, khối lượng là: 0,448g là ma túy, loại Heroine.

Heroine nằm trong Danh mục I, Mục IA STT: 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Sau khi giám định hoàn lại mẫu vật là 0,405gam Heroine

Tại Biên bản xét nghiệm phát hiện chất ma túy trong nước tiểu đối với chất ma túy trong nước tiểu đối với Trần Văn T, bằng thanh thử DURG Test, kết quả: T dương tính với heroine.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSTPHD ngày 17-02-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự -Công an tỉnh Hải Dương. Xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Trần Văn T từ 17 tháng đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17-11-2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,405gam Heroine, 01 mảnh giấy màu trắng có chữ viết, 01 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng) và 01 vỏ phong bì hoàn niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Văn T không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22h00’ ngày 17/11/2022, tại khu vực Km58+900 Quốc lộ 5A hướng Hải Phòng đi Hà Nội thuộc phường Ái Quốc, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Trần Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,448g ma túy loại Heroine trong túi quần bên trái đang mặc, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Trần Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Heroinne là chất ma túy gây nghiện có tác hại không chỉ cho sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội, việc bị cáo Trần Văn T đã có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 0,448gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với khối lượng và hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo Trần Văn T về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội nên cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

Xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Về nhân thân: Trần Văn T là người có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn T bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trần Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cần thiết xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn T tàng trữ ma túy số lượng ít, với mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,448gam Heroine thu giữ của Trần Văn T. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại mẫu vật 0,405gam Heroine, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ và 01 mảnh giấy màu trắng có chữ viết, 01 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng) và 01 vỏ phong bì hoàn niêm phong mẫu vật gửi đến giám định không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội.

Về các vấn đề khác: Đối với người bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn T không rõ họ, tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.

Đối với đối tượng tên Q (theo T khai) là người đi mua và cùng T sử dụng ma túy vào ngày 17/11/2022; kết quả điều tra không làm rõ được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17-11-2022.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy, 01 mảnh giấy màu trắng có chữ viết, 01 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng) và 01 vỏ phong bì hoàn niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong 01 phong bì được niêm phong số 587/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.

(Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).

4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Hải Dương;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND TP Hải Dương;

- CQTHAHS - Công an tỉnh Hải Dương;

- Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ - Công an TP Hải Dương;

- CQCSĐT-Công an TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương;

- CQTHAHS-Công an TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương;

- Chi cục THADS TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương;

- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;

- Trại tạm giam-CA tỉnh Hải Dương;

Nguyễn Thị Thu

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HẢI DƢƠNG

Số: 03/TB-SCBS

TP Hải Dương, ngày 23 tháng 3 năm 2023

THÔNG BÁO SỬA CHỮA, BỔ SUNG

BẢN ÁN HÌNH SỰ

Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy, Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HSST ngày 14-3-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xét xử đối với bị cáo Trần Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” có lỗi do sai sót, nhầm lẫn trong khâu soát xét, cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

Tại trang 5 phần Quyết định của bản án đã ghi:

...Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nay đƣợc sửa chữa, bổ sung nhƣ sau:

Tại trang 5 phần Quyết định của bản án ghi:

...Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Cỡ chữ