vanban.org

Bản án 31/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Y B H Bdap phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Y B H Bdap 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Y W Mlô không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đề cập giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Y B H Bdap phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y B H Bdap phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ KUIN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HSST
Ngày 06/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Ngọc Điệp

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thiện và ông Nguyễn Thế Vinh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trương Quang Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường xét xử A, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai, hình thức trực truyến đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST-HS, ngày 11 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Y B H Bdap; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2004 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ê đê; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông: Y S Hmŏk và bà: H J Bdap; Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/6/2023 đến nay – có mặt

* Bị hại: Anh Y W Mlô, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 21 giờ 00 ngày 08/4/2023, Y B H Bdap (sinh năm: 2004, trú tại buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk) đến quán bi-a KC của ông Lê V (sinh năm 1983) tại thôn K, xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk để chơi bi-a. Y B H Bdap chơi bi-a tại bàn đầu tiên, bên trái, tính từ ngoài quán vào (bàn số 1). Lúc này, Y W Mlô (sinh năm: 1999, trú tại: Buôn E, xã E) cũng chơi bi-a tại bàn số 6 và trong lúc chơi thì Y W để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng, ốp lưng bằng nhựa viền màu hồng trên bàn gỗ gần đó để khỏi bị vướng khi chơi bi-a. Một lúc sau, Y W chuyển qua chơi tại bàn bi-a số 2 nhưng vẫn để chiếc điện thoại trên bàn gỗ. Đến khoảng 0 giờ 50 phút ngày 09/4/2023, Y B H Bdap nghỉ chơi bi-a nhưng chưa đi về ngay mà đi qua khu vực bàn bi-a số 7 để xem người khác chơi. Khi đang ngồi ở vị trí ghế sát bàn gỗ bàn bi-a số 6 thì Y B H Bdap nhìn thấy chiếc điện thoại của Y W để trên bàn gỗ và thấy những người khác tại quán chỉ tập trung chơi bi-a, nói chuyện với nhau, không chú ý đến chiếc điện thoại nên Y B H Bdap lấy trộm chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi tiếp tục ngồi xem một lúc. Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, Y B H Bdap đi vòng qua bên hông của quán rồi ấn vào nút giảm âm lượng của điện thoại để tránh bị phát hiện khi có người khác gọi đến. Sau đó, Y B H Bdap cất giấu điện thoại trong bụi cỏ sát tường bên hông quán để đến sáng lấy về sử dụng rồi đi về nhà. Một lúc sau, Y W nghỉ chơi bi-a thì phát hiện điện thoại bị mất nên trình báo sự việc đến cơ quan chức năng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng 5 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 điện thoại di động loại Iphone Xs Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng, số máy MT522KH/A, số sê-ri F2LY44VYKPH3, số IMEI: 357298096363071, số IMEI2: 357298096562771, có ốp lưng bằng nhựa vào thời điểm bị chiếm đoạt ngày 09/4/2023 có trị giá là 7.500.000 đồng.

* Về việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ, gồm: 01 (một) điện thoại di động loại Iphone Xs Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng, số máy MT522KH/A, số sê-ri F2LY44VYKPH3, số IMEI: 357298096363071, số IMEI2: 357298096562771, có ốp lưng bằng nhựa viền màu hồng và 01 đĩa DVD-R có lưu giữ 06 đoạn video do Camera được lắp đặt tại quán bi-a KC ghi lại các hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản vào ngày 09/4/2023;

Ngày 16/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động loại Iphone Xs Max nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Y W Mlô.

Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKS-HS ngày 09/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Y B H Bdap về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Y B H Bdap, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Y B H Bdap mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

b) Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trao trả 01 (một) điện thoại di động loại Iphone Xs Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng, số máy MT522KH/A, số sê-ri F2LY44VYKPH3, số IMEI: 357298096363071, số IMEI2: 357298096562771, có ốp lưng bằng nhựa viền màu hồng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Y W Mlô.

- Đề nghị tịch thu và lưu trong hồ sơ vụ án đối với 01 đĩa DVD-R có lưu giữ 06 đoạn Video do Camera được lắp đặt tại quán bi-a KC ghi lại các hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản vào ngày 09/4/2023.

c) Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Y W Mlô không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện việc kiểm sát hoạt động tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, nên bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 09/4/2023 tại quán bi-a KC của anh Lê Văn ở thôn K, xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Y B H Bdap đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động loại Iphone Xs Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng, ốp lưng bằng nhựa viền màu hồng của anh Y W Mlô có giá trị 7.500.000 đồng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin đã truy tố bị cáo Y B H Bdap phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Điều 173 Bộ Luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…”

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản của công dân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị. Xong xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, với bản chất lười lao động nhưng mong muốn có tiền tiêu sài cho cá nhân nên bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục với bị cáo trở thành người lương thiện. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, tái hòa nhập với đời sống cộng đồng trở thành người công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo nhất thời phạm tội, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn, chưa gây thiệt hại và được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra, bị hại anh Y W Mlô không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không đặt ra để xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại 01 (một) điện thoại di động loại Iphone Xs Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng, số máy MT522KH/A, số sê-ri F2LY44VYKPH3, số IMEI: 357298096363071, số IMEI2: 357298096562771, có ốp lưng bằng nhựa viền màu hồng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Y W Mlô.

- Tịch thu và lưu trong hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD-R có lưu giữ 06 đoạn Video do Camera được lắp đặt tại quán bi-a KC ghi lại các hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản vào ngày 09/4/2023.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Y B H Bdap phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Y B H Bdap 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Y W Mlô không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đề cập giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại 01 (một) điện thoại di động loại Iphone Xs Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng, số máy MT522KH/A, số sê-ri F2LY44VYKPH3, số IMEI: 357298096363071, số IMEI2: 357298096562771, có ốp lưng bằng nhựa viền màu hồng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Y W Mlô.

- Tịch thu và lưu trong hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD-R có lưu giữ 06 đoạn Video do Camera được lắp đặt tại quán bi-a KC ghi lại các hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản vào ngày 09/4/2023.

4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Y B H Bdap phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Báo quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ