vanban.org

Bản án 31/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thái Hòa, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST Phan Đinh S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THÁI HOÀ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-ST
Ngày 26 tháng 6 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:1 – Ông Hồ Văn Hào

2 – Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Thương- Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Thái-Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2023/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phan Đình S; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 20 tháng 4 năm 1979 tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh;Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Đình Q, sinh năm 1950; Con bà: Hồ Thị T, sinh năm 1954; Có vợ: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1989 và có 02 con: Con lớn sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2017

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 1999, Phan Đình Sbị TAND tỉnh Nghệ An xử phạt 16 năm tù về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt ngày 02/9/2010; Năm 2013 bị TAND quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 05/5/2014; Năm 2016, bị TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội“ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt ngày 16/02/2021 ( đã được xoá án tích).

BÞ cáobị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2023 đến ngày 01/3/2023. Sau đó được thay thế biện pháp ngăn chặn “ Bão lĩnh”.Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2.Họ và tên: Lâm Văn T1, T2 gọi khác: không; Sinh ngày 14tháng 02 năm 1991tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản X, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Thái;Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lâm Văn X (đã chết) và con bà: Lương Thị T3, sinh năm 1965; Vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;Tiền án: Tại bản án số 34 ngày 30/5/2017, Lâm Văn T1bị TAND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 07(bảy) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt ngày 29/5/2022 ( Chưa được xoá án tích). BÞ cáobị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2023 cho đến nay.

* Người bào chữa cho bị cáo Lâm Văn T1:

Bà Tạ Thị A- Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh T5pháp lý số 2, thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N

Có mặt.

3. Họ và tên: Lê Tuấn A1, T2gọi khác: không; Sinh ngày 24 tháng 10năm 2002 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn T4, sinh năm 1979 và con bà: Đào Thị N, sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không. Tiền án: Tại bản án số 35 ngày 29/7/2021, Lê Tuấn A1bị TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 08(tám) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 27/12/2021.( Chưa được xoá án tích). BÞ can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2023 cho đến nay.

Người chứng kiến:

+Anh Đậu Huy H1, sinh năm 1970. Vắng mặt.

Trú tại: Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An.

+ Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1989. Có mặt.

Trú tại: Xóm Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 22/02/2023, Phan Đình Smột mình đón xe buýt đi từxóm Đ, xã N, thị xã Tđến khu vực ngã ba S thuộc xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ Anđể tìm mua ma tuý. Tại đây, Phan Đình Sgặp một người đàn ông ( Skhông biết tên, địa chỉ cụ thể) và mua của người này 02 gói ma tuý gồm: 01(một) gói ni lông trong suốt, bên trong có chứa nhiều viên nén màu hồng là ma tuý ( Methamphetamine); 01(một) gói ni lông trong suốt, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma tuý (Hê rô in) với tổng số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Sau khi mua được số ma tuý trên, Phan Đình Sđưa về nhà và Schia số ma tuý là Hê rô in thành nhiều gói nhỏ, trong đó có 10 góiđược gói bằng giấy màu vàng; 01 gói được gói bằng ni lông trong suốt. Sau đó Phan Đình Scất dấu toàn bộ số ma tuý vào một hộp bằng kim loại và thu dấu tại nhà mình, nhằm mục đích là để sử dụng và bán ma túy cho các con nghiện khác để kiếm lời. Vào khoảng 11 giờ ngày 23/02/2023, Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1là những đối tượng nghiện chất ma tuý nên cả hai cùng rủ nhau đi mua ma tuý. Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1đón xe Taxi đi từ xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đến xóm Đ, xã N, thị xã Tvà đi vào nhà Phan Đình S để hỏi mua ma túy. Đến khoảng 11 giờ 45 phút ngày 23/02/2023 thì Lê Tuấn A1và Lâm Văn T1đến nhà Phan Đình S. Tại đây,Lê Tuấn A1đưa cho Lâm Văn T1700.000 đồng với mục đích để mua ma tuý của Phan Đình S. Sau khi đưa tiền xong Lê Tuấn A1đi ra ngoài để đi mua thuốc lá, còn Lâm Văn T1ở lại gặp Phan Đình S và mua của S 08(tám) viên nén màu hồng là ma tuý (Methamphetamine) được gói trong gói giấy màu bạc, bên ngoài được bọc bằng gói ni lông trong suốt với tổng số tiền là 700.000 đồng. Sau khi Lê Tuấn A1đi mua thuốc lá về, Lâm Văn T1đã đưa gói ma tuý vừa mua được của Phan Đình Scho Lê Tuấn A1cất giữ.

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi Phan Đình S, Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1đang có mặt tại nhà của Phan Đình Sthì bị lực lượng công an thị xã Ttiến hành bắt giữ. Thu giữ tại túi quần của Phan Đình S: 01(một) gói ni lông trong suốt, bên trong có chứa 81 viên nén màu hồng, mỗi viên nén có đường kính 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên nén có chữ “WY” và 01(một) hộp kim loại, bên trong có chứa: 10 gói giấy màu vàng, bên trong mỗi gói có chứa chất bột màu trắng và 01(một) gói ni lông trong suốt, bên trong có chứa chất bột màu trắng cùng với số tiền 700.000 đồng ( đây là số tiền mà Phan Đình Sđã bán ma tuý cho Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1). Ngoài ra công an thị xã Tcòn thu giữ trên sàn nhà gần vị trí của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A101(một) gói ni lông trong suốt, bên trong có chứa 01(một)gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc có chứa 08 viên nén màu hồng, mỗi viên nén có đường kính 0,5cm, trên một mặt mỗi viên nén có chữ “WY”. Đây là số ma tuý mà Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1vừa mua được của Phan Đình Sdo trong quá trình bị trình lực lượng công an tiến hành bắt giữ thì Lê Tuấn A1cầm gói ma tuý vứt xuống sàn nhà.

Lực lượng chức năng đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, dẫn giải Phan Đình S, Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1cùng tang vật về công an thị xã Tđể điều tra xử lý theo quy định pháp luật.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định vào lúc 16 giờ ngày 23/02/2023 của cơ quan CSĐT công an thị xã Txác định:

- Số vật chứng thu giữ của Phan Đình Sgồm:

+ 01(một) gói ni lông trong suốt, bên trong có chứa 81( tám mươi mốt) viên nén màu hồng ( được đánh ký hiệu là A). Sau khi loại bỏ bao bì 81 viên nén màu hồng có khối lượng là 7,8 gam.

+ 10 ( mười) gói giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ( được đánh ký hiệu lần lượt từ B1 đến B10). Số chất bột màu trắng sau khi đã loại bỏ bao bì có tổng khối lượng là 0,59 gam.

+ 01(một) gói ni lông trong suốt, bên trong có chứa chất bột màu trắng ( được đánh ký hiệu B11). Số chất bột màu trắng sau khi đã bỏ bao bì có khối lượng là 0,78 gam.

Tổng khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Phan Đình Slà 1,37 gam.

- Số vật chứng thu giữ của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1gồm:

+01(một) gói ni lông trong suốt, bên trong có chứa một gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc có chứa 08 viên nén màu hồng ( được đánh ký hiệu là C). 08 viên nén màu hồng sau khi đã loại bỏ bao bì có khối lượng là 0,77 gam. Tại Kết luận giám định số 246/KL-KTHS(Đ2- MT) ngày 28/02/2023 của phòng Kcông an tỉnh Nkết luận:

- Mẫu viên nén màu hồng ( ký hiệu AM) thu giữ của Phan Đình Sgửi tới giám định là ma tuý ( Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ của Phan Đình Scó tổng khối lượng là 7,8 gam.

- 11(mười một) mẫu chất bột màu trắng ( ký hiệu lần lượt từ B1M đến B11M) thu giữ của Phan Đình Sgửi tới giám định đều là ma tuý (Hê rô in). Số chất bột màu trắng thu giữ của Phan Đình Scó tổng khối lượng là 1,37 gam.

- Mẫu viên nén màu hồng ( ký hiệu CM) thu giữ của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1gửi tới giám định là ma tuý (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1có khối lượng là 0,77 gam.

Về vật chứng vụ án:

Cơ quan CSĐT công an thị xã Tthu giữ:

+Thu giữ của Phan Đình S81 viên ma tuý (Methamphetamine) có khối lượng là 7,8 gam, đã lấy 20 viên có khối lượng 1,92 gam để trưng cầu giám định. Số vật chứng còn lại 61 viên có khối lượng 5,88 gam (Methamphetamine) được niêm phong theo quy định.

+ Thu giữ của Phan Đình S1,37 gam ma tuý (Hê rô in), đã lấy 0,46 gam để trưng cầu giám định. Số vật chứng còn lại 0,91 gam được niêm phong theo quy định.

+ Thu giữ của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A108 viên ma tuý (Methamphetamine) có khối lượng là 0,77 gam, đã lấy 02 viên có khối lượng 0,19 gam để trưng cầu giám định. Số vật chứng còn lại 06 viên có khối lượng 0,58 gam được niêm phong theo quy định..

+ Thu giữ của Phan Đình Ssố tiền 700.000 đồng ( đây là số tiền Phan Đình Sđã bán ma tuý cho Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1). Hiện tại số tiền này đang được bảo quản tại kho bạc nhà nước thị xã T, tỉnh Nghệ An theo đúng quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tốbị cáo Phan Đình Svề tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm pkhoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1Điều 249của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà giữ nguyên quan điểm như đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm p khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS tuyên bố bị cáo Phan Đình S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phan Đình Stừ 07 (bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm, 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tình từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ, tạm giam.

-Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 38 BLHS, tuyên bố bị cáo Lâm Văn T1, Lê Tuấn A1phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lâm Văn T1 từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi tư) tháng tù.

Xử phạt bị cáo Lê Tuấn A1từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi tư) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/02/2023.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dông ®iÓm a kho¶n 2, ®iÒu 106 - BLTTHS năm2015.

-Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, được dán kín trên các mép dán của gói niêm phong có chữ ký của người liên quan và của các đối tượng, bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong tại thời điểm bắt quả tang, các bao bì, hộp kim loại và toàn bộ vật chứng còn lại ký hiệu là “AN” và từ “B1N đến B11N” thu giữ của Phan Đình S.

+01 (một) phong bì thư hình chữ nhật được dán kín trên các mép dán của gói niêm phong có chữ ký của người liên quan và của các đối tượng, bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong tại thời điểm bắt quả tang, các bao bì và toàn bộ vật chứng còn lại ký hiệu là “CN” thu giữ của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1. Toàn bộ số vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù thÞ x· Th¸i Hßa theo biªn b¶n bµn giao vËt chøng ngµy 29 th¸ng 5n¨m 2023. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng). Số tiền trên đã được cơ quan Điều tra nộp tại Kho bạc nhà nước Thị xã Ttheo biên bản giao nhận tài sản số 06/2023/BBBG-KBTH (VNĐ) ngày 23/03/2023. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Lâm Văn T1 trình bày: BÞ c¸o Lâm Văn T1thành khẩn khai b¸o, ¨n n¨n hèi c¶i vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38- BLHS xử phạt bị cáo từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo Phan Đình S, Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1đều thừa nhận hành vi phạm tội và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Đình S, Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với Biên bản sự việc, Biên bản khám xét, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghiã vụ liên quan, lời khai của người chứng kiến trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã có căn cứ xác định: Vào khoảng 11h 45 phút ngày 23/02/2023, Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1đến nhà của Phan Đình Sthuộc xóm Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ Anvà mua của Phan Đình S08 viên ma tuý (M) với giá 700.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, sau khi mua bán ma tuý xong Phan Đình S, Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1đang ngồi chơi tại nhà Phan Đình Sthì bị lực lượng công an thị xã Ttiến hành kiểm tra bắt giữ. Thu giữ của Phan Đình S81 viên ma tuý(Methamphetamine) có khối lượng 7,8 gam; 11 gói ma tuý(Hê rô in) có tổng khối lượng là 1,37 gam và số tiền 700.000 đồng. Như vậy số ma tuý(Methamphetamine) và (Hê rô in) thu giữ của Phan Đình Scó tổng khối lượng là 9,17 gam. Thu giữ của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A108 viên ma tuý (Methamphetamine) có khối lượng là 0,77 gam. Số ma túy trên là do Phan Đình Sđi lên khu vực ngã ba S thuộc xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ Anmua của một người đàn ông không quen biết với giá 10.000.000 đồng để đem về bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy nhằm mục đích kiếm lời. Hành vi của Phan Đình Sđã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” (với tổng khối lượng là 9,94 gam) ; Hành vi của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” ( với khối lượng là 0,77 gam) nên S, T1, Anh phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy hành vi của Phan Đình S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 điều 251 BLHS; Hành vi của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an chung tại địa phương, việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáoPhan Đình S đã từng bị xét xử về hành vi vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nay lại tiếp tục mua bán trái phép chất ma túy, Bị cáo S vì hám lợi nên đã bất chấp pháp luật, gieo rắc tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây hậu quả xấuvề nhiều mặt cho xã hội nên cần xét xử nghiêm. Bị cáo Lâm Văn T1cũng đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,bị cáo mới chấp hành xong hình phạt ngày 29/5/2022; bị cáo Lê Tuấn A1cũng từng bị Tòa án xét xử về tội “ Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 27/12/2021. Như vậy bị cáo T1và bị cáo A1phạm tội khi chưa được xóa án tích nên cần xét xử nghiêm.

Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Bị cáoSkhông có tình tiết tăng nặng nhưngcó nhân thân xấu. Các bị cáo Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1phạm tội khi chưa được xóa án tích nên tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 – BLHS. Trong quá quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 - BLHS.Bị cáo Phan Đình S có bố đẻ là Phan Đình Q được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo Phan Đình Shiện đang mắc bệnh suy tim nặng nên cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần về hình phạt. Tuy nhiên việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo thành ngườicó ích cho xã hội.

Phân hóa vai trò, vị trí và mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:

Bị cáo Phan Đình S là người đi mua ma túy về với mục đích để bán kiếm lời và để có tiền sử dụng ma túy. Toàn bộ vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra (9,94 gam) đều do bị cáo Smua bán mà có. Như vậy Phan Đình Sphải chịu trách nhiệm hình sự chính trong vụ án. Bị cáo Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1cùng rủ nhau đi mua ma túy để sử dụng. Lâm Văn T1là người trực tiếp giao dịch với S để mua ma túy còn Lê Tuấn A1là người đưa số tiền 700.000đ cho Lâm Văn T1mua 08 viên ma túy của S. NênT1và Anh đồng phạm về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và cùng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tàng trữ 08 viên ma túy có khối lượng 0,77 gam.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này theo quy định tại khoản 5 điều 251 BLHS, ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản gì nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:Áp dông ®iÓm a, c kho¶n 2, ĐiÒu 106 - BLTTHSnăm2015, Điều 47 BLHS năm 2015.

- Cần tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, được dán kín trên các mép dán của gói niêm phong có chữ ký của người liên quan và của các đối tượng, bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong tại thời điểm bắt quả tang, các bao bì, hộp kim loại và toàn bộ vật chứng còn lại ký hiệu là “AN” và từ “B1N đến B11N” thu giữ của Phan Đình S.

Một phòng bì thư hình chữ nhật được dán kín trên các mép dán của gói niêm phong có chữ ký của người liên quan và của các đối tượng, bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong tại thời điểm bắt quả tang, các bao bì và toàn bộ vật chứng còn lại ký hiệu là “CN” thu giữ của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1. Toàn bộ số vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù thÞ x· Th¸i Hßa theo biªn b¶n bµn giao vËt chøng ngµy 29 th¸ng 5n¨m 2023.

Biện pháptư pháp: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng). Số tiền trên đã được cơ quan Điều tra nộp tại Kho bạc nhà nước Thị xã T theo biên bản giao nhận tài sản số 06/2023/BBBG-KBTH (VNĐ) ngày 23/03/2023.

VÒ ¸n phÝ: Cần buộc các bÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phan Đình S do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cư để xử lý.

V× c¸c lÏ trªn.

quyÕt ®Þnh

1.Căn cứ vào điểm pkhoản 2 ĐiÒu 251; điểm s kho¶n 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - BLHS năm 2015.

Xử phạt Phan Đình S07(bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ đi số ngày từ tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 tháng 02 năm 2023 đến ngày 01/3/2023.

Căn cứ vào điểm c khoản 1ĐiÒu 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; ĐiÓm s kho¶n 1Điều 51; Điều 58; Điều 38 - BLHS năm 2015. Xử phạt Lâm Văn T1 18 (Mười tám) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2023.

Xử phạt Lê Tuấn A118 (Mười tám) tháng tù về tội“ Tàng trữ trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2023.

2. VÒ vËt chøng vô ¸n: Áp dông ®iÓm a, c kho¶n 2, ĐiÒu 106 - BLTTHS năm 2015, Điều 47 BLHS năm 2015.Tuyªn tÞch thu tiªu huû:

+01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, được dán kín trên các mép dán của gói niêm phong có chữ ký của người liên quan và của các đối tượng, bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong tại thời điểm bắt quả tang, các bao bì, hộp kim loại và toàn bộ vật chứng còn lại ký hiệu là “AN” và từ “B1N đến B11N” thu giữ của Phan Đình S.

+ 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật được dán kín trên các mép dán của gói niêm phong có chữ ký của người liên quan và của các đối tượng, bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong tại thời điểm bắt quả tang, các bao bì và toàn bộ vật chứng còn lại ký hiệu là “CN” thu giữ của Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1.

Toàn bộ số vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù thÞ x· Th¸i Hßa theo biªn b¶n bµn giao vËt chøng ngµy 29 th¸ng 5n¨m 2023.

3. Biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng). Số tiền trên đã được cơ quan Điều tra Công an thị xã T nộp tại Kho bạc nhà nước Thị xã Ttheo biên bản giao nhận tài sản số 06/2023/BBBG-KBTH (VNĐ) ngày 23/03/2023.

4. Án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án). Buộc bị cáo Phan Đình S,Lâm Văn T1và Lê Tuấn A1mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt cácbị cáo, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. N¬i nhËn:

- BÞ c¸o;

Cỡ chữ