- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Như Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HS-ST Ngày: 27/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thương;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Kế và bà Đào Thị Thanh Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023, theo quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Như Thanh T, sinh năm 1989, tại Hưng Yên;
Đăng ký HKTT/Nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Như T1 và bà Lương Thị T2; Có vợ là Mai Thị H và có 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2020;
Tiền án: Ngày 24/8/2021 Tòa án nhân dân TP Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/2/2023 đến ngày 01/3/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
- Ông Phạm Văn K, sinh năm 1965 (Có mặt);
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Phạm Đăng S, sinh năm 1968 (Có mặt);
Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 23/02/2023, tại quán nước của ông Phạm Văn K, sinh năm 1965 ở thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên, trong quá trình tuần tra, kiểm soát Công an huyện T phát hiện Phạm Như Thanh T, sinh năm 1989 ở thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên tàng trữ tại túi quần phía trước bên phải 01 gói nilon bên trong có 01 gói giấy màu vàng có chứa chất màu trắng dạng cục và bột. Cơ quan Công an đã tiến hành thu giữ và niêm phong trong phong bì ký hiệu M1. Tại chỗ T khai nhận chất màu trắng trong gói giấy bạc màu vàng là ma túy, loại Heroine do T vừa mua được của một người đàn ông tên B ở khu vực B thành phố H, tỉnh Hưng Yên và cất giấu trong túi quần, mục đích đem về sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Như Thanh T tại thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản Kết luận giám định số 140/KL-KTHS(MT) ngày 26/02/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có tổng khối lượng 0,268 gram là ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra, Phạm Như Thanh T khai nhận: T là đối tượng nghiện chất ma túy loại Heroine từ năm 2015 đến nay. Khoảng 09 giờ ngày 23/02/2023, T đang ở nhà thì có một người nam thanh niên, tên thường gọi là C đi xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng (T không nhớ biển kiểm soát) đến đón, rủ T đi chơi. Do C là đối tượng nghiện ma túy nên T hiểu là C rủ T đi mua ma túy về để sử dụng, T đồng ý. Sau đó, C chở T đi lên đoạn gần bến xe khách H gặp một người tên B. T đưa cho B một tờ tiền mệnh giá 200.000đ để mua ma túy thì B đưa lại cho T 01 (một) gói ma túy được bọc trong một túi nilon bên trong có một gói giấy màu vàng. T cầm lấy và đút vào túi quần bên phải phía trước của T đang mặc để đem về sử dụng. Sau đó, C chở T về cầu P thuộc thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên để ngồi uống nước. T vừa vào quán nước nhà ông K ở đầu cầu P thì lực lượng Công an huyện T kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Người thanh niên tên C đã lên xe máy bỏ chạy đi về hướng đường Q.
* Vật chứng của vụ án gồm: 01 Phong bì số 140/KL-KTHS(MT) hoàn mẫu vật gửi giám định, bên trong chứa 0,257g ma túy, loại Heroin, được niêm phong dán kín và có hình dấu của Phòng K1, Công an tỉnh H.
Tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKS-TL ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Phạm Như Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng và nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Như Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Phạm Như Thanh T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn được tính từ ngày bắt bị cáo bị tạm giữ 23/02/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 0,257g heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội và tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 23/02/2023, tại quán bán nước của ông Phạm Văn K, sinh năm 1965, thuộc địa phận thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Phạm Như Thanh T, sinh năm 1989, ở thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên tàng trữ 0,268g là ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,268g Heroine để sử dụng, hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà bị cáo vẫn cố ý phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Về hình phạt: Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tương xứng và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,257g Heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.
Đối với người thanh niên tên C đi cùng T mua ma túy vào ngày 23/02/2023 và người đàn ông tên Bình bán ma túy cho T vào ngày 23/02/2023 tại khu vực Bến xe khách thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Quá trình điều tra đến nay không xác định được người thanh niên tên C và B là ai, ở đâu nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tách hành vi của C và B ra để tiếp tục xác minh, đề xuất xử lý sau là có căn cứ, HĐXX không xem xét.
Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, áp dụng điều luật, mức hình phạt, xử lý vật chứng trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo bị xác định có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Như Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Phạm Như Thanh T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 23/02/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, cho tiêu hủy: 0,257g Heroin trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 140/KL-KTHS (MT) của Phòng K1 - Công an tỉnh H.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ ngày 07/6/2023).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Như Thanh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người có QL,NVNQ; - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên; - Viện KSND huyện Tiên Lữ; - Cơ quan CSĐT, CQ thi hành án hình sự, Bộ phận HSNV cảnh sát Công an huyện Tiên Lữ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Thương |