- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thế Anh- Mua bán - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần TA phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ơ Bản án số: 31/2023/HS-ST Ngày: 23/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Lệ Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đoàn Văn Minh; -
- Bà Trần Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2023/TLST-HS ngày 10/02/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HS ngày 10/02/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần TA; Sinh năm: 1998; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HTTT: Thôn B, xã N, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn Dũng; Con bà: Nguyễn Thị Đảm; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Hoàng Ngọc Mai; Bị cáo có 01 con (sinh năm 2021);
Trích lục tiền án, tiền sự: Không;
Danh chỉ bản số: 720, lập ngày 10/10/2022, tại Công an quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2022, tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Ngô Văn B; Sinh năm: 1997; HKTT: Thôn B, xã N, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; (Bị cáo có mặt tại phiên tòa; Anh B vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 28/9/2022, tổ công tác Công an phường Mỹ Đình 1 làm nhiệm vụ tại trước khu vực cổng công viên bãi xe Mễ Trì Hạ thuộc phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội phát hiện 3 nam thanh niên ngồi trên hai xe máy dừng đỗ có biểu hiện nghi vấn nên tiếp cận kiểm tra. Khi thấy tổ công tác, nam thanh niên mặc áo mưa màu xanh điều khiển xe máy Honda Wave (không rõ biển kiểm soát) bỏ chạy làm rơi lại một chiếc điện thoại nhãn hiệu Kechaoda màu đen cùng số tiền 120.000 đồng, hai nam thanh niên ngồi trên xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng mang BKS: 36G1-195.01 bị giữ lại tại hiện trường. Kiểm tra phát hiện trong tay phải nam thanh niên ngồi sau tên Ngô Văn B có một túi nilông màu đen bên trong có chứa thảo mộc khô và bên trong túi xách đang đeo có một túi nilông màu đen bên trong có chứa thảo mộc khô. Nam thanh niên điều khiển phương tiện tên Trần TA khai nhận hai túi nilông chứa thảo mộc khô là ma túy cỏ ToBco (tên gọi khác là thuốc lá vui) của TA nhờ B cầm để bán cho khách là nam thanh niên vừa bỏ chạy với giá 200.000 đồng cho một túi nilông cỏ ToBco. Việc bán cỏ ToBco TA không nói cho B biết. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, dẫn giải đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an để điều tra làm rõ.
Vật chứng tạm giữ của Trần TA: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen, gắn sim số 0961.583.169; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng, gắn sim số 0362.219.069; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 36G1-195.01; 01 cân điện tử màu trắng; 01 điện thoại nhãn hiệu Kechaoda K51; 120.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tạm giữ của Ngô Văn B: 01 túi nilông màu đen, kích thước khoảng (8x10)cm, bên trong chứa thảo mộc khô; 01 túi nilông màu đen, kích thước khoảng (8x10)cm, bên trong có chứa thảo mộc khô; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, gắn sim số 0966.289.665.
Tại Kết luận giám định số: 6873/KL-KTHS ngày 05/10/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilông màu đen có ma túy loại ADB- BUTINACA, khối lượng: 6,772 gam; Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilông màu đen có ma túy loại ADB-BUTINACA, khối lượng: 7,137 gam; 01 cân điện tử màu trắng không dính chất ma túy./.”
Quá trình điều tra xác định: Tháng 8/2022, Trần TA từ Thanh Hóa đến Hà Nội và lên mạng xã hội Facebook để tìm việc làm thêm. Khi tham gia các hội nhóm mua bán ma túy cỏ ToBco, TA thấy việc mua bán này có lãi nên nảy sinh ý định mua ma túy cỏ ToBco về bán lại kiếm lời. TA sử dụng điện thoại Iphone 8 đăng nhập vào tài khoản Facebook "Trần Minh Hiếu" đăng bài bán cỏ ToBco từ khoảng giữa tháng 8/2022, đến khoảng giữa tháng 9/2022 khi thấy khách liên hệ hỏi mua cỏ ToBco nên TA liên hệ với một tài khoản Zalo tên "Xuân Nam ToBco" để mua 100gam cỏ ToBco với giá 750.000 đồng và được tặng thêm các túi nilông nhỏ màu đen để chia ra bán cho khách, việc chuyển hàng qua hình thức ship Cod. Sau khi mua được cỏ ToBco, TA mang về phòng trọ rồi chia nhỏ ra bán theo yêu cầu của khách với giá từ 100.000đồng/1 túi 5gram hoặc 200.000 đồng/1 túi 10 gram (tính cả Bo bì), thu được số tiền khoảng 1.200.000đồng. Cuối tháng 9/2022, qua mạng xã hội TA biết cỏ ToBco có chứa chất ma túy và bị pháp luật cấm nhưng vẫn tiếp tục đăng bán số ma túy còn lại để kiếm lời.
Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 28/9/2022, TA đang ở tại địa chỉ số 55 ngách 14/30 Mễ Trì Hạ, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội thì có tài khoản Facebook tên "Mạnh Quân" nhắn tin đến tài khoản của TA hỏi mua một túi cỏ ToBco giá 200.000 đồng, TA đồng ý. Nam thanh niên hỏi mua ma túy sử dụng số điện thoại 0563748010 gọi cho TA hẹn ra khu vực công viên bãi xe Mễ Trì Hạ để giao dịch. Sau đó, TA lấy cỏ ToBco đặt lên cân 10 gam rồi cho vào túi zíp màu đen để bán cho nam thanh niên hỏi mua ma túy, và cân thêm 10 gam cho vào túi zip đen, mục đích nếu có khách hỏi mua thì bán. Lúc này, anh Ngô Văn B (Sinh năm: 1997; HKTT: Xã Nga Bạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa) là bạn cùng quê đến phòng trọ nhờ TA đưa đi nộp hồ sơ xin việc tại Công ty Viettel Post (địa chỉ Km12, đường quốc lộ 32, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội). TA đồng ý và đưa túi nilông màu đen nhờ B cầm hộ nhưng không nói cho B biết bên trong có cỏ ToBco, B để túi ni lông vào túi đeo chéo trên người. Sau đó TA sử dụng xe máy Honda Wave BKS: 36G1-195.01 chở B ngồi phía sau đi đến trước cổng bãi đỗ xe ngầm Mễ Trì Hạ thì gặp một nam thanh niên đi xe máy Honda Wave (không rõ biển kiểm soát). TA dừng xe và bảo B lấy một túi nilông màu đen để đưa cho người hỏi mua ma túy. Khi B lấy 01 túi cỏ ToBco cầm trên tay và nam thanh niên mua ma túy đang đếm tiền để thanh toán thì bị tổ công tác Công an phường Mỹ Đình 1, Công an quận Nam Từ Liêm đang làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Lợi dụng sơ hở, nam thanh niên mua ma tuý bỏ chạy thoát và đánh rơi số tiền 120.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi nghìn đồng) cùng chiếc điện thoại Kechaoda.
Tại Cơ quan điều tra Trần TA đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên. Đối với anh Ngô Văn B là người ngồi phía sau xe máy khi TA bị bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định anh B không biết 02 gói nilông màu đen mà TA đưa có chứa ma túy ToBcco, phù hợp với lời khai của TA và các tài liệu chứng cứ thu thập được, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý. Ngày 01/11/2022, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại cho anh Ngô Văn B 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu tím gắn sim số 0966.289.665. Anh B đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.
Đối với nam thanh niên có tên tài khoản Facebook “Mạnh Quân”, sử dụng số điện thoại 0563.748.010 hỏi mua ma túy (như TA khai). Quá trình điều tra xác định người đứng tên đăng ký thuê Bo số điện thoại trên là bà Nguyễn Thị Loan (Sinh năm: 1964; HKTT: Kim Mã, B Đình, Hà Nội). Bà Loan khai làm nghề kinh doanh online sim điện thoại nên không biết và không nhớ số điện thoại 0563.748.010 đã được bán cho ai. Bản thân bà Loan không sử dụng số điện thoại này, không biết Trần TA là ai. Do TA không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ của đối tượng hỏi mua ma túy, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý. Đối với người bán ma túy cho TA sử dụng tài khoản Zalo tên "Xuân Nam ToBco" (như TA khai). Do TA không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ của đối tượng bán ma túy, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 36G1-195.01 tạm giữ của Trần TA, tại Cơ quan điều tra, TA khai mượn xe máy của bạn cùng phòng trọ là anh Dương Công Hạnh (Sinh năm: 1997; HKTT: Xã Nga Bạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Anh Hạnh khai chiếc xe máy trên là của bà Trần Thị Nga, mẹ của anh Hạnh. Ngày 28/9/2022, anh Hạnh đi vắng để xe máy tại phòng trọ nên TA lấy sử dụng, anh Hạnh không biết TA sử dụng xe máy để đi mua bán ma túy. Bà Nga khai mua chiếc xe máy trên năm 2015 với giá 15.000.000đồng để phục vụ đi lại, xe máy đứng tên bà Nga. Năm 2020 bà Nga cho anh Hạnh mượn đi làm. Quá trình điều tra xác định, đăng ký xe mang tên bà Trần Thị Nga, xe máy không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 28/11/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại anh Dương Công Hạnh chiếc xe máy trên. Anh Hạnh đã nhận lại tài sản, không yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại Cáo trạng số: 01/CT-VKSNTL ngày 28/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, truy tố bị cáo Trần TA về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật quy định: “Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần TA thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo TA về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần TA và kết luận giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo TA về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần TA từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không;
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng trữ là: 02 phong bì niêm phong có chữ ký giáp lai của Trần TA và giám định viên; 01 cân điện tử đã được niêm phong;
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng, có lắp thẻ sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Kechaoda và số tiền 120.000đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi nghìn đồng), là phương tiện phạm tội của Bị cáo và đối tượng mua ma túy; Trả lại Bị cáo TA: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen, có lắp thẻ sim, tạm giữ của Bị cáo, nhưng không phải là vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần TA tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 28/9/2022, tại bãi đỗ xe Mễ Trì Hạ, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Trần TA có hành vi cất giấu 02 gói Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilông màu đen có ma túy loại ADB- BUTINACA, khối lượng là: 6,772 gam và 7,137 gam, mục đích để bán kiếm lời. Khi TA đang bán trái phép 01 gói Thảo mộc khô, bên trong có ma túy loại ADB- BUTINACA có khối lượng 6,772 gam cho một người đàn ông không quen biết, thì bị Tổ công tác Công an phường Mỹ Đình 1, Công an quận Nam Từ Liêm phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi nêu trên của Bị cáo Trần TA đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố bị cáo Trần TA về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của Bị cáo Trần TA là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà Nước về chế độ quản lý các chất ma túy. Bị cáo thực hiện hành vi: “Mua bán trái phép chất ma túy” với lỗi cố ý trực tiếp, Bị cáo nhận thức rõ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng Bị cáo vẫn thực hiện, vì vậy, Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trước khi phạm tội có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội và tại phiên tòa, Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của Bị cáo là nghiêm trọng, được thể hiện ở mục đích phạm tội, khối lượng, loại ma túy Bị cáo mua bán, căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục Bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với Bị cáo TA từ 30 tháng đến 36 tháng tù, là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra, Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy, Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, tại phiên tòa, Bị cáo đã rất ăn năn, hối cải về hành vi của Bị cáo, nên cho Bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, áp dụng mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên cũng có tác dụng giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng trữ là: 02 phong bì niêm phong có chữ ký giáp lai của Trần TA và giám định viên; 01 cân điện tử đã được niêm phong;
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng, có lắp 01 thẻ sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Kechaoda có lắp 01 thẻ sim và số tiền 120.000đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi nghìn đồng), là phương tiện phạm tội của Bị cáo và đối tượng mua ma túy;
Trả lại bị cáo TA: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen, có lắp 01 thẻ sim, tạm giữ của Bị cáo, nhưng không phải là vật chứng, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, là có căn cứ.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần TA phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trần TA 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng trữ là: 02 phong bì niêm phong có chữ ký giáp lai của Trần TA và giám định viên; 01 cân điện tử đã được niêm phong;
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng, lắp 01 thẻ sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Kechaoda, lắp 01 thẻ sim và số tiền: 120.000đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi nghìn đồng);
Trả lại bị cáo TA: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen, lắp 01 thẻ sim;
(Có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng số: 93, lập ngày 29/12/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 29/12/2022 tại Kho bạc Nhà Nước Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1, 4 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Về án phí: Bị cáo TA phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
Đỗ Thị Lệ Thủy
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận :
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa
Đỗ Thị Lệ Thủy án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận :
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
Đỗ Thị Lệ Thủy
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Lưu HS.
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận :
- Bị cáo;
- VKSND quận Nam Từ Liêm;
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND TP Hà Nội;
- Công an quận Nam Từ Liêm;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
Đỗ Thị Lệ Thủy
- Bộ phận Thi hành án HS Tòa án ND quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận : - Bị cáo; - VKSND quận Nam Từ Liêm; - VKSNDTP Hà Nội; - TAND TP Hà Nội; - Công an quận Nam Từ Liêm; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm; - Bộ phận Thi hành án HS Tòa án ND quận Nam Từ Liêm; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Lệ Thủy |