- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A Ch - Phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HS-ST Ngày 23 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Hạnh, Ông Giàng A Gông
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
ơ
Ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2023/TLST-HS ngày 04/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST - HS ngày 11/8/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A Ch - Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1992 tại huyện M, tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký thường trú: Bản Huổi Q1, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú hiện nay: Bản H, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin Lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng Khua Ch – Sinh năm 1968 và bà Vừ Thị D – Sinh năm 1970; vợ Lầu Thị D – Sinh năm 2005 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị cơ quan nào xử phạt hành chính, chưa bị kết án.
Tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 05/5/2023, tạm giam từ ngày 05/5/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Quàng Văn L - Sinh năm 1963; Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Điên Biên. Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người phiên dịch: Ông Giàng A D - Sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 26/4/2023, bị cáo Vàng A Ch đi bộ từ nhà tại Bản H, xã N, huyện M đến thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Điện Biên, khi đến thôn A bị cáo mượn được xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α của ông Quàng Văn L lên trung tâm thị trấn T. Sau đó bị cáo một mình đi xe đến đoạn đường nghĩa trang nhân dân thị trấn T, tại đây bị cáo có gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ và hỏi mua được 01 gói ma tuý với giá 50.000đồng. Khi mua được bị cáo cất giấu gói ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe quay về. Đến 17 giờ 00 phút cùng ngày tại đoạn đường thuộc Tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C thì bị tổ công tác Công an thị trấn Tủa Chùa bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng bên trong có 01 cục chất bột màu trắng thể rắn.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α, không có biển kiểm soát, màu sơn đỏ - đen – xám.
Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Quàng Văn L 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α, không có biển kiểm soát, màu sơn đỏ - đen - xám.
Ngày 26/4/2023 Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,2495 gam; lấy 0,0712 gam làm mẫu vật gửi giám định, niêm phong vật chứng còn lại 0,1783 gam.
Kết luận giám định số: 710/KL - PC09 ngày 04/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu cục chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Vàng A Ch gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine – có khối lượng 0,2495 gam.
Cáo trạng số 17/CT - VKSHTC ngày 03 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Vàng A Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại; Đề nghị chấp nhận quyết định xử lý vật chứng của cơ quan điều tra về việc trả lại xe mô tô cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xét thấy người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và sự vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự. [2] Xét về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và bản kết luận giám định.
Có đủ cơ sở kết luận ngày 26/4/2023 bị cáo đã mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine trị giá 50.000 đồng, mục đích bị cáo mua Heroine để sử dụng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu gói Heroine trong lòng bàn tay trái. Đến 17 giờ 00 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an thị trấn Tủa Chùa bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,2495 gam Heroine cất giấu để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên về áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có cơ hội cho bị cáo cai nghiện chất ma túy. [3] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về vấn đề khác có liên quan: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng vụ án:
Đối với chiếc xe mô tô cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức trả lại chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với 0,1783 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định là vật cấm tàng trữ; 01 mảnh nilon; 01 vỏ bao niêm phong cũ là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. [6] Về án phí:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên cần miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 20121 - 2025; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vàng A Ch phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vàng A Ch 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 26/4/2023.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,1783 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ bao niêm phong cũ.
Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa. 4. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo:
Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/8/2023); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tủa Chùa; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện Tủa Chùa; - Cơ quan CSĐT CA huyện Tủa Chùa; - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - THADS huyện Tủa Chùa; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Lưu: HSVA, HSTHA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tòng Thị Lan |