- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lò Văn Long phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HS-ST Ngày 05 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mầu Văn Mùi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Duy Tùng và ông Lê Mạnh Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn La, Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc kết nối với điểm cầu trực tuyền Trại tam giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lưu động trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Lò Văn L, sinh năm 1991; nơi cư trú: B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; văn hóa: 09/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn N và bà Lương Thị N1 (tên gọi khác Lò Thị N2); vợ, con: Chưa có; quá trình hoạt động của bản thân: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/3/2023 cho đến nay (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn D, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Người làm chứng: Anh Tòng Văn T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Đội 15, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 01/3/2023, Lò Văn L đang làm thợ xây tại khu công nghiệp Thăng L 3, thuộc xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc thì nảy sinh ý định sử dụng trái phép ma túy. Qua bạn bè xã hội nói chuyện, L biết tại khu vực Sân vận động huyện Tam Đảo có người bán ma túy nên đã thuê anh Tòng Văn Thơm đang hành nghề xe ôm chở lên khu vực Sân vận động để tìm mua ma túy sử dụng nhưng không nói với Thơm đi mua ma túy mà L nói với Thơm chở đi gặp bạn, khi đi L đem theo 01 xi lanh màu trắng, đã qua sử dụng để trong túi áo khoác bên phải. Thơm điều khiển xe mô tô chở L đi đến đoạn đường tỉnh lộ 302, gần khu vực Sân vận động huyện T thì L xuống xe, đi bộ đến trước cửa nhà nghỉ Thái Tuấn. Tại đây, L gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ) và hỏi mua được của người này 01 gói ma túy Heroin với giá 200.000đ. Sau khi mua được gói ma túy, L cất gói ma túy vào túi áo khoác bên phải phía trước đang mặc để đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng gồm: Thu tại túi áo khoác bên phải của L 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 màu xanh, bên trong có 01 túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong túi nilon có chứa chất cục dạng bột màu trắng (L khai nhận đây là túi ma túy Heroine) mục đích để sử dụng, vật chứng được niêm phong ký hiệu M1; 01 chiếc xi lanh màu trắng, loại 3ml/cc, đã qua sử dụng, được niêm phong ký hiệu M2.
Tại kết luận giám định số: 513/KLGĐ – KTHS ngày 05/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:“Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1836g (Không phảy một tám ba sáu gam, không kể bao bì) loại Heroine.
Hoàn trả lại đối tượng giám còn lại sau giám định là 0,1465g mẫu và toàn bộ bao gói.
Tại Cáo trạng số: 27/CT-VKSTĐ ngày 09/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Lò Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Lò Văn L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tam giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/3/2023, tại đường tỉnh lộ 302, đoạn đường trước cửa Nhà nghỉ T ở thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Bị cáo Lò Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy heroine, có khối lượng 0,1836g mục đích đế sử dụng thì phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là tệ nạn xã hội cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài ra ma túy là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm sình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông, bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho bị cáo nhưng bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người này. Ngoài lời khai của bị cáo không có căn cứ nào khác để xác định đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Tam Đảo tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Đối với anh Tòng Văn Thơm là lái xe ôm chở bị cáo đến khu vực Sân vận động Tam Đảo nhưng không biết mục đích bị cáo đi mua ma túy, không biết việc mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật ma túy do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định là 0,1465 gam mẫu và toàn bộ bao gói và 01 chiếc xi lanh màu trắng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lò Văn L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/3/2023).
3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc xi lanh màu trắng và toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại, gồm: 0,1465g mẫu và toàn bộ bao gói (có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2023).
4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn L.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Trại TGCA tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Tam Đảo; - Chi cục THADS huyện Tam Đảo; - Công an huyện Tam Đảo; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mầu Văn Mùi |