- Tranh chấp gì? án hình sự — "HÀ VĂN T - TÀNG TRỮ MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HS-ST Ngày 29/6/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cường và ông Gia Văn Tính.
- Thư ký phiên toà: Ông Lâu Văn Chứ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29/6/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2023/TLST-HS ngày 23/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 15/6/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn T; sinh năm 1986 tại xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn D và bà Lương Thị N; bị cáo có vợ là Phạm Thị C, sinh năm 1995 và có 01 con; tiền án: Không.
Tiền sự: 01
- Ngày 10/01/2020, Hà Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hoá quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 04/01/2022 T chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023, chuyển tạm giam ngày 23/3/2023 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn Khôi – Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 1 – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hà Văn D, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Bản P, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Lục Văn P, sinh năm 1977
Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hoá, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 3 năm 2023 tổ công tác Đồn Biên phòng Trung Lý – Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hoá phối hợp cùng Công an xã T, huyện M Lát đang thực hiện nhiệm vụ tại bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện một người đàn ông đang đứng ven đường, bên cạnh một chiếc xe máy có dấu hiệu nghi vấn. Phát hiện thấy tổ công tác người đàn ông bỏ chạy và để xe máy ở lại, tổ công tác tiến hành truy đuổi và yêu cầu người đàn ông dừng lại để kiểm tra, qua kiểm tra đối tượng khai tên là Hà Văn T, sinh năm 1986, trú tại bản P, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hoá. Tiến hành kiểm tra xe máy của Hà Văn T phát hiện bên trong cốp xe hông bên trái có 01 túi nilon màu trắng bên trong có 04 viên nén hình trụ tròn màu đỏ, trên bề mặt mỗi viên nén đều có ký hiệu WY, Hà Văn T khai nhận đó là Hồng phiến của Toản mua về để sử dụng.
Quá trình điều tra, Hà Văn T khai nhận: Khoảng 11 giờ, ngày 20/3/2023, Hà Văn Toản một mình điều khiển xe máy đi từ nhà T đến bản T, xã T, huyện M mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đầu bản T, xã T, huyện M thì T gặp một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đang đi bộ, T hỏi người đàn ông có biết chỗ nào bán ma túy không mua hộ cho T một ít thì được người đàn ông này đồng ý. Hà Văn T lấy từ trong người ra và đưa cho người đàn ông đó số tiền 100.000đồng để nhờ anh ta đi mua hộ ma túy, người đàn ông nhận tiền rồi bảo T ngồi đợi. Đến khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày 20/3/2023 thì người đàn ông này quay lại đưa cho T một gói nilon màu trắng, Hà Văn T nhận lấy gói nilon rồi mở ra xem thì nhìn thấy bên trong có 04 viên Hồng phiến màu đỏ. Mua được ma túy, T đã lấy tuốc nơ vít trong cốp xe rồi mở hông bên trái của xe máy Dream ra cất giấu toàn bộ số ma túy vừa mua được vào đó và ngồi ven đường chơi. Đến khoảng 14 giờ 30, khi Hà Văn T đang ngồi nghỉ ở ven đường thì gặp tổ công tác cua Đồn Biên phòng Trung Lý và Công an xã Trung Lý, huyện Mường Lát đang thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thu giữ số ma tuý Toản cất giấu.
Bản kết luận giám định số: 1176/KL-KTHS, ngày 22/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- 04 (Bốn) viên nén hình trụ tròn màu đỏ trên bề mặt các viên có ký hiệu WY của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,412g (Không phẩy bốn một hai gam) loại: Methamphetamine.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 (một) một phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành mặt trước có ghi: Vụ BP Trung Lý TC01 ngày 20/3/2023 đã được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Lê Minh Tiến, Nguyễn Trần Đăng, Lâm Tiến Dũng và các hình dấu đỏ, tròn có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại máy có bàn phím, đã qua sử dụng;
- 01 (một) Chứng minh nhân dân mang tên Hà Văn T;
- 01 (một) Căn cước công dân mang tên Hà Văn T;
- 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Hà Văn T;
- 01 (một) Tuốc nơ vít bằng kim loại, có cán nhựa màu vàng (đã qua sử dụng).
Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát.
- Đối với vật chứng là 01 (một) chiếc xe máy loại xe Dream màu nâu, nhãn hiệu Metallicstar, biển kiểm soát 28F3-6449; số khung VNSPCG00515202148; số máy: LC150FMG 02043666 (xe đã qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của ông Hà Văn D, sinh năm 1962, trú tại bản P, xã P, huyện Q là bố đẻ của Hà Văn T. Ông Hà Văn D cũng đã có đơn xin lại tài sản, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát đã trả lại tài sản trên cho ông Hà Văn D theo quy định pháp luật.
- Đối với người đàn ông đã mua hộ 04 viên ma túy cho Hà Văn T vào ngày 20/3/2023 tại bản T, xã T, huyện M. Quá trình điều tra, Hà Văn T khai nhận không biết người đàn ông này là ai, làm gì và ở đâu. Chỉ nhớ được đặc điểm của người đàn ông này là dân tộc Mông, người gầy nhỏ, mặc quần áo màu xám, cao khoảng 1,55 mét và khoảng 40 tuổi. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại khu vực bản T, xã T, huyện M, kết quả không xác định được đối tượng có đặc điểm nêu trên do đó Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh nếu đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số: 31/CT-VKS-ML ngày 22/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, xử phạt bị cáo từ 14 đến 18 tháng tù.
Quá trình điều tra xác định bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) một phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành mặt trước có ghi: Vụ BP Trung Lý TC01 ngày 20/3/2023 đã được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Lê Minh Tiến, Nguyễn Trần Đăng, Lâm Tiến Dũng và các hình dấu đỏ, tròn có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa; 01 (một) Tuốc nơ vít bằng kim loại, có cán nhựa màu vàng (đã qua sử dụng).
Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại máy có bàn phím, đã qua sử dụng; 01 (một) Chứng minh nhân dân mang tên Hà Văn T; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Hà Văn T; 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Hà Văn T;
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo thuộc trường hợp được miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Đồng ý với tội danh mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố đối với bị cáo; thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên về việc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực chỉ để nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu cá nhân do bị cáo thiếu làm chủ, để bản thân sa vào tệ nạn xã hội nên mua ma tuý với mục đích để sử dụng, bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình là hộ nghèo; nhận thức pháp luật hạn chế, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án từ 12 đến 14 tháng tù, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo thành khẩn nhận tội, bị cáo đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Hà Văn D không có ý kiến gì đối với quan điểm, đề nghị của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 3 năm 2023, tổ công tác Đồn Biên phòng Trung Lý – Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hoá và Công an xã Trung Lý, huyện Mường Lát đã kiểm tra phát hiện Hà Văn T cất giấu 04 viên nén hình trụ tròn màu đỏ, trên bề mặt mỗi viên nén đều có ký hiệu WY trong cốp hông bên trái của xe máy Dream. Tại Bản kết luận giám định số: 1176/KL-KTHS, ngày 22/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 04 (bốn) viên nén hình trụ tròn màu đỏ trên bề mặt các viên có ký hiệu WY của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,412g (Không phẩy bốn một hai gam) loại: Methamphetamine. Hà Văn T khai nhận số ma tuý trên Toản mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại bản Tà Cóm, xã Trung Lý, huyện Mường Lát rồi cất giấu vào cốp xe máy mang về để sử dụng; khối lượng ma tuý bị cáo cất giấu là trên 0,1gam và dưới 05 gam, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
. Xét tính chất vụ án: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và cũng đã nhận thức được ma túy là chất bị Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ do những tác hại xấu đến đời sống kinh tế, xã hội cũng như sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nhưng để thoả mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được duy trì; để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự.
. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy và có 01 tiền sự đã bị Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hoá quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo đã chấp hành xong quyết định vào ngày 04/01/2022 nhưng chưa đủ thời gian để được coi là chưa bị xử lý hành chính. Mặc dù bị cáo đã bị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không cai được ma tuý, không coi đó là cơ hội, bài học để sửa chữa, rèn luyện bản thân mà tiếp tục sa vào tệ nạn xã hội, thể hiện việc bị cáo không có khả năng tự cải tạo, lao động để trở thành công dân tốt vì vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Hội đồng xét xử cũng xét: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bố đẻ của bị cáo được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba vì vậy nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật để bị cáo yên tâm cải tạo, lao động trở thành công dân tốt.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, lao động tự do không có thu nhập ổn định, không có tài sản cá nhân nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án:
- Đối với vật chứng là 01 (Một) chiếc xe máy loại xe Dream màu nâu, nhãn hiệu Metallicstar, biển kiểm soát 28F3-6449; số khung VNSPCG00515202148; số máy: LC150FMG 02043666 (xe đã qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Hà Văn D là bố đẻ của bị cáo T, khi bị cáo dùng xe máy đi mua ma tuý ông D không có nhà và không biết việc T sử dụng xe máy vào việc thực hiện hành vi phạm tội do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát trả lại tài sản cho ông Hà Văn D là phù hợp quy định pháp luật.
- Đối với vật chứng là 01 (một) phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành đã được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Lê Minh Tiến, Nguyễn Trần Đăng, Lâm Tiến Dũng và các hình dấu đỏ, tròn có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đựng mẫu vật còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với tài sản, giấy tờ thu giữ của bị cáo là: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại máy có bàn phím, đã qua sử dụng; 01 (một) Chứng minh nhân dân mang tên Hà Văn T; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Hà Văn T; 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Hà Văn T. Đây là tài sản, giấy tờ thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với vật chứng là 01 (một) Tuốc nơ vít bằng kim loại, có cán nhựa màu vàng (đã qua sử dụng). Đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Hà Văn D là bố đẻ bị cáo, do tài sản không có giá trị nên ông Hà Văn D không yêu cầu trả lại mà đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ.
. Về án phí:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Hà Văn T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 20/3/2013.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành đã được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Lê Minh Tiến, Nguyễn Trần Đăng, Lâm Tiến Dũng và các hình dấu đỏ, tròn có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đựng mẫu vật còn lại sau giám định; 01 (một) Tuốc nơ vít bằng kim loại, có cán nhựa màu vàng đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Hà Văn T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại máy có bàn phím, đã qua sử dụng; 01 (một) Chứng minh nhân dân mang tên Hà Văn T; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Hà Văn T; 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Hà Văn T.
Các vật chứng, tài sản hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 2, Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người có QL&NV liên quan; - VKSND huyện Mường Lát; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát; - Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Lát; - UBND xã P, huyện Q; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hoá; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa Lê Văn Minh |