vanban.org

Bản án 31/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 24/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260 và khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Phúc N phạm các tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội «Vi phạm quy định về tham gia giao thông đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Phúc N, Điều 260, 341 - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (…"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260 và khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-ST
Ngày 24 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Hữu San

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tống Xuân Quyết

Ông Hoàng Văn Bốn

- Thư ký phiên toà: Ông Ma Ngọc Hiếu – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên toà: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án hình sự thụ lý số 21/2023/TLST-HS, ngày 27/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HS, ngày 11/5/2023 đối với bị cáo:

Hà Phúc N, sinh ngày 20/7/1989 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông: Hà Phúc Q, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị C, sinh năm 1963; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 248/QĐ-XPHC ngày 30/12/2016 bị Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang xử phạt 350.000 đồng về hành vi mua số đề trái phép;

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 63/QĐ-XPHC ngày 13/7/2020 bị Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt).

- Người bị hại: Bà Nông Thị H, sinh năm 1972; trú tại: Thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Chư Thị P, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (là con gái ruột của nạn nhân). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng ngày 08/4/2021, Hà Phúc N sử dụng tài khoản Facebook vào một trang Facebook không xác định được quảng cáo làm giấy phép lái xe, do chưa có giấy phép lái xe nên Nhân nhắn tin trao đổi và đặt mua 01 giấy phép lái xe hạng A1 với số tiền 1.500.000 đồng, đồng thời gửi ảnh bản thân và ảnh Chứng minh nhân dân cho trang Facebook này. Khoảng 01 tuần sau, có nhân viên giao hàng không xác định được tên tuổi, địa chỉ giao cho Nhân 01 giấy phép lái xe giả hạng A1 số 200219002368 ghi ngày 15/4/2021 mang tên Hà Phúc N in dấu Sở Giao thông vận tải tỉnh Tuyên Quang, kèm theo 01 bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe đề ngày 11/4/2021 mang ảnh và đề tên của N. N đưa cho người giao hàng này 1.500.000 đồng. Giấy phép lái xe và bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe N để ở nhà đến nay bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe đã mất.

Khoảng 14 giờ ngày 12/11/2022, N (không có giấy phép lái xe theo quy định) mang theo giấy phép lái xe giả trên điều khiển xe mô tô biển số 27Z1-039.17 (xe của N) chở anh Hà Phúc F sinh năm 1990, trú cùng thôn đến nhà chị Quan Thị O, sinh năm 1989, trú tại thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang chơi thì gặp bà Nông Thị H sinh năm 1972, trú tại thôn L, xã T, huyện C tại nhà chị O. Sau đó cả 04 người rủ nhau đi đến huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang chơi.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 27Z1-039.17 chở bà Nông Thị H, anh Hà Phúc F điều khiển xe mô tô biển số 22F1-340.13 chở chị Quan Thị O đi đường liên thôn từ xã T, huyện C đến xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô chở bà H đi đến đoạn đường dốc xuống và cua ngoặt sang trái theo chiều đi của N, thuộc thôn Nặm Lương, xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang bên phải đường có biển báo giao thông cảnh báo nguy hiểm báo hiệu “Chỗ ngoặt bên trái” và biển cảnh báo phụ “Đường dốc 17,5% chạy chậm”. Phát hiện phía trước có khúc ngoặt, N phanh cả phanh trước và phanh sau đồng thời dùng chân trái hãm xuống đường để giảm tốc độ, nhưng do đang đi tốc độ cao, đường dốc nên N không giảm được tốc độ, khi đến đoạn ngoặt xe mô tô do N điều khiển lao ra khỏi lề đường bên phải rơi xuống vực bên phải đường. Hậu quả bà H và N bị thương tích được đưa đến Trung tâm Y tế huyện Hàm Yên để điều trị. Cùng ngày bà H chết, xe mô tô của N bị hư hỏng.

Hồi 21 giờ 50 phút cùng ngày, tại Trung tâm Y tế huyện Hàm Yên sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên yêu cầu, Hà Phúc N đã giao nộp cho cơ quan Công an 01 giấy phép lái xe giả hạng A1 số 200219002368 ghi ngày 15/4/2021 mang tên Hà Phúc N in dấu Sở Giao thông vận tải tỉnh Tuyên Quang.

Biên bản kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Hà Phúc N hồi 20 giờ 48 phút, ngày 12/11/2022, kết quả: 0,0 miligam/1 lít khí thở; Biên bản xét nghiệm tìm chất ma tuý trong cơ thể Hà Phúc N hồi 10 giờ 30 phút ngày 13/11/2022, kết quả: (-) Âm tính, không có chất ma tuý trong cơ thể.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường hồi 20 giờ ngày 12/11/2022, tại thôn Nặm Lương, xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xác định: Khám nghiệm theo hướng Khuôn Nhoà - Nặm Lương. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường bê tông vòng cua sang trái và lươn xuống dốc về phía Nặm Lương, mặt đường rộng 3,5m, bên phải là lề đất cỏ rộng 1,55m, tiếp đến là ta luy dương cao 1,23m, tiếp đến là ta luy âm xuống suối sâu trung bình 10m. Xác định điểm mốc là tâm mép cầu bê tông qua suối phía bên trái và lấy mép đường bê tông phải làm chuẩn. Từ điểm mốc về phía Khuôn Nhoà sang phải 20,4m, phát hiện vết trượt miết, bung đất đá, gãy cây cỏ đổ rạp có chiều hướng Khuôn Nhoà - Nặm Lương chéo từ trái sang phải dài 19,1m, chỗ rộng nhất 2,1m. Tâm điểm khởi đầu nằm ngoài mép đường bê tông 1,62m, kết thúc tại phía sau xe mô tô biển số 27Z1-039.17, tâm điểm kết thúc nằm ngoài mép đường phải 8,17m (Vị trí 01).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1385/KL-KTHS ngày 09/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận nguyên nhân chết của Nông Thị H:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vùng thắt lưng trái có đám trà sát mất da.

- Chấn thương ngực, bụng kín: Vùng mạn sườn trái biến dạng, hơi lõm vào phía trong. Khoang bụng chứa nhiều máu loãng không đông, khối lượng khoảng 2000ml. Kiểm tra mặt trước trên gan trái có vùng vỡ nát, kích thước (7x2) cm, bờ mép nham nhở, thành nền dập nát. Lách xuất huyết, tụ máu; cuống lách rách bán phần. Kiểm tra các xương sườn bên trái thấy gãy các xương 6,7,8,9,10 ở cung trên.

2. Nguyên nhân chết:

Mất máu cấp do chấn thương ngực, bụng kín, vỡ gan, vỡ lách.

3. Kết luận khác:

- Vị trí, đặc điểm dấu vết trên thân thể đã mô tả ở trên.

- Cơ chế gây thương tích: Thương tích trên thân thể tử thi Nông Thị H do va đập với vật tày gây ra.

Tại Kết luận giám định số 1459/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận:

1. Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 27Z1-039.17 với phương tiện khác ngay trước khi xảy ra tai nạn.

2. 02 vết trượt xước kim loại tại mặt trước trên tay phanh bên phải; vết trượt xước sơn tại bên phải phía trên mặt nạ; vết bung bật, gãy vỡ nhựa, lộ khoảng trống tại ốp bảo vệ xi nhan trái; gương chiếu hậu bên trái bị vỡ phần gương, tay gương lỏng lẻo; vết nứt vỡ, khuyết nhựa, bề mặt kẹt dính các mảnh lá cây, thân cây cỏ khô tại mặt ngoài phía dưới bàn để chân trước bên phải; 02 vị trí bị cong vênh tại phần ốp kim loại bảo vệ ống xả; vết bung bật cá hãm, lệch khỏi vị trí ban đầu của ốp sườn xe bên trái; vết bung bật khỏi vị trí, nứt vỡ tại xi nhan trái, chắn bùn sau của xe mô tô biển số 27Z1-039.17 hình thành do xe mô tô trượt, đổ, văng rê ra phía ngoài lề đường tạo nên là phù hợp.

Tại Kết luận giám định số 52/GĐ-KTHS ngày 29/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận:

“GIẤY PHÉP LÁI XE/ DRIVER’S LICENSE” số 200219002368, hạng A1, mang tên Hà Phúc N; sinh ngày 20/7/1989; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi cư trú: X.Q, H.Chiêm Hoá, T.Tuyên Quang; Ghi ngày cấp 15/4/2021 là giả.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSHY, ngày 27/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên đã truy tố bị cáo Hà Phúc N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và tội «Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức» quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo tội danh, điều luật đã nêu trong Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Hà Phúc N phạm các tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và «Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức».

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đối với tội «Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ»; áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đối với tội «Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức»; các Điều 38, 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Phúc N từ 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội «Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ»; từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù về tội «Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức». Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng đến 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe giả hạng A1, mang tên Hà Phúc N.

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đồng thời tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Phúc N khai nhận do chưa có Giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định nên khoảng ngày 08/4/2021 bị cáo đã truy cập mạng xã hội Facebook, vào một tài khoản không xác định để đặt mua 01 Giấy phép lái xe giả hạng A1 mang tên của bị cáo với giá tiền 1.500.000đ nhằm đối phó nếu bị lực lượng chức năng kiểm tra trong quá trình điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ. Ngày 12/11/2022, mặc dù không có Giấy phép lái xe, biết mình không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27Z1 – 039.17 của bị cáo mua lại của người khác đến nhà chị Quan Thị O tại thôn Lang Chang, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang chơi. Sau đó, bị cáo tiếp tục điều khiển xe máy chở bà Nông Thị H ngồi phía sau đi sang huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Khi đi đến đoạn đường xuống dốc và cua ngoặt sang trái theo chiều đi của bị cáo thuộc thôn Nặm Lương, xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang phát hiện có biển báo nguy hiểm, yêu cầu giảm tốc độ và đi chậm nên bị cáo đã sử dụng cả hai phanh, nhưng do đang đi với tốc độ cao, đường dốc nên xe của bị cáo không giảm được tốc độ đã lao ra khỏi lề đường bên phải lao xuống vực khiến cả bị cáo và bà H bị thương, xe máy bị hư hỏng. Sau đó do thương tích quá nặng nên bà H đã chết. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã thỏa thuận và bồi thường cho gia đình bà Nông Thị H số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Trình bày Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình đã gây ra.

Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp cho người bị hại xác định sau khi sự việc xảy ra bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã thỏa thuận, bồi thường xong về dân sự nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về việc xem xét hành vi của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Phúc N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên đã truy tố đối với bị cáo. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo Hà Phúc N còn được chứng minh bằng Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm tử thi; vật chứng thu giữ; các kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/11/2022, tại đường liên thôn từ xã T, huyện C đến thôn Nặm Lương, xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; Hà Phúc N (không có giấy phép lái xe theo quy định) sử dụng Giấy phép lái xe giả số 200219002368, hạng A1, mang tên Hà Phúc N điều khiển xe mô tô biển số 27Z1-039.17, chở bà Nông Thị H ngồi phía sau tham gia giao thông đường bộ theo hướng từ xã T, huyện C đến xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên đã không giảm tốc độ tối đa đến mức có thể dừng lại một cách an toàn khi điều khiển xe đến đoạn đường có địa hình quanh co, đèo dốc, không chấp hành báo hiệu đường bộ (vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 4; khoản 1,3,4 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ) khi xe mô tô xuống dốc và ngoặt sang trái đã lao xuống vực ở ngoài lề đường bên phải. Hậu quả làm bà Nông Thị H bị va đập mất máu cấp dẫn đến bà Hải bị chết.

Hồi 21 giờ 50 phút, ngày 12/11/2022, tại Trung tâm Y tế huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện yêu cầu Hà Phúc N đã giao nộp 01 giấy phép lái xe giả hạng A1 số 200219002368 ghi ngày 15/4/2021 mang trên Hà Phúc N với mục đích nhằm đối phó với việc kiểm tra của lực lượng chức năng về điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ quy định: “1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ…”.

Khoản 3 Điều 4 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định «Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông”.

Khoản 1, 3, 4 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định các trường hợp lái xe phải giảm tốc độ «1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;…3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận; 4. Qua cầu, cống hẹp; đi qua đập tràn, đường ngầm, hầm chui; khi lên gần đỉnh dốc, khi xuống dốc...”.

Hành vi của bị cáo Hà Phúc N đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và tội «Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức» quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Hành vi điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe theo quy định gây tai nạn dẫn đến hậu quả chết người của bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm vào quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của giao thông đường bộ, trực tiếp xâm hại đến tính mạng của người khác; hành vi sử dụng giấy tờ giả của bị cáo nhằm đối phó với lực lượng chức năng khi bị kiểm tra đã xâm phạm vào trật tự quản lý hành chính và hoạt động đúng đắn, bình thường của các cơ quan Nhà nước, vi phạm pháp luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người có nhân thân xấu, do vậy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo chỉ làm ruộng, bản thân không có tài sản gì riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về các hành vi phạm tội của mình. Đối với tội «Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ», sau khi phạm tội bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; quá trình điều tra và trong Đơn xin xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng đối với bị cáo để lên mức án cho phù hợp.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra cơ quan Điều tra đã trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 27Z1-039.17 và 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 002278 cho bị cáo Hà Phúc N nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Ngoài ra, cơ quan Điều tra còn thu giữ 01 Giấy phép lái xe số 200219002368, hạng A1, mang tên Hà Phúc N. Tài liệu trên được xác định là giả nên cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

Về phần dân sự:

Quá trình điều tra bị cáo Hà Phúc N đã thỏa thuận và tự nguyện bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo Hà Phúc N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nhưng được miễn toàn bộ do là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi của Hà Phúc N điều khiển xe mô tô không có Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực, Công an huyện Hàm Yên đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 150.000đ; đối với người làm, bán, giao nhận giấy phép lái xe giả cho Hà Phúc N cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

Do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các vấn đề trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260 và khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Phúc N phạm các tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội «Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ»; khoản 1 Điều 341 các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đối với tội «Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức»; các Điều 38, 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Phúc N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội «Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ»; 07 (Bảy) tháng tù về tội «Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức». Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung cho cả hai tội là 04 (Bốn) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe giả hạng A1, mang tên Hà Phúc N; sinh ngày 20/7/1989; Quốc tịch: Việt Nam; nơi cư trú: X.Q, H.Chiêm Hoá, T.Tuyên Quang; ghi ngày cấp 15/4/2021.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Phúc N.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Bị cáo Hà Phúc N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại, chị Chư Thị P được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ