vanban.org

Bản án 31/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 09/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội: “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”;

Giao bị cáo cho Ủy Bn nhân dân xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo vi phạm nghĩa vụ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VP quy định về GT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội: “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-ST.
Ngày 09.6.2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG N

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Phượng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Trung Thiêng.

2. Ông Trịnh Sơn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Khánh Vy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng N, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 13/2023/HS-ST ngày 13.3.2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 13.5.2023 đối với bị cáo:

Trần Văn B, sinh năm 1978. Nơi sinh: Thăng Bình, Quảng N; Nơi cư trú: thôn B, xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng N; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; giới tính: N; con ông: Trần V Th (đã chết) và bà Lê Thị L (sinh năm 1949); bị cáo đã có vợ và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- hại: Anh Phan Quốc V, sinh năm 2000. (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của b hại: Ông Phan Hồng N, sinh năm 1970 và bà Mai Thị Đ, sinh năm 1970; Cùng địa chỉ: Tổ 19, phường An Hải Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Người làm chứng: Ông Kiều Ngọc T, sinh năm 1986.

Trú tại: Thôn Th, xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng N.

(Người làm chứng vắng mặt, còn lại đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 03/6/2022, sau khi nhậu xong tại nhà anh họ ở Thăng Bình, Trần Văn B đã có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô hiệu Sirius biển kiểm soát 92H1-134.78 (thuộc sở hữu của B) đến nhà bà con ở thôn Thuận An, xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng N để chơi. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, B điều khiển xe mô tô đi từ hướng đường bê tông thuộc thôn Thuận An, xã Duy Nghĩa lên hướng ngã tư cầu Cửa Đại để về nhà. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường bê tông thôn Thuận An với đường Võ Chí Công - là nơi có tín hiệu đèn giao thông nhưng không hoạt động, B điều khiển xe đến đường Võ Chí Công thì rẽ trái đi vào làn đường dành cho người và phương tiện lưu hành theo hướng Thăng Bình - Hội An. Khi B điều khiển xe đi được khoảng 05m thì va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát 43K1-193.04 do Phan Quốc V điều khiển lưu hành trên đường Võ Chí Công theo hướng Thăng Bình - Hội An theo chiều đi của mình làm V ngã xuống đường tử vong tại chỗ, B bị thương nhẹ.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Đoạn đường xảy ra tai nạn được trải nhựa phẳng, thẳng. Mặt đường rộng 16m50, ở giữa có dải phân cách không liền nét, chia thành 02 làn đường. Làn đường hướng Đông (giáp xã Duy Hải) rộng 5,8m; làn đường hướng Tây (giáp xã Duy Nghĩa) rộng 10m70cm, hướng Bắc là hướng đi thành phố Hội An, hướng Tây giáp khu dân sự, hướng N là hướng đi Thăng Bình, hướng Đông giáp đường nhựa đang thi công.

Chọn cột đèn chiếu sáng không số cuối cùng trên dải phân cách cứng của đường Võ Chí Công hướng Thăng Bình đi Hội An làm mốc. Chọn làn đường bên phải hướng Thăng Bình- Hội An làm mép chuẩn để khám nghiệm, đơn vị đo đạc là m (mét) và cm (centimet).

(1) là vị trí tử thi Phan Quốc V nằm ngửa trên chiếu trên mặt đường nhựa. Đầu tử thi quay về hướng Đông, cách mép lề phải là 40cm, chân tử thi quay về hướng Tây. Chiều dài tử thi là 1m80, đầu tử thi đo đến tâm trục bánh sau của xe mô tô 92H1-134.78 là 2m50cm.

(2) là vị trí xe mô tô 92H1-134.78 ngã nằm qua tay lái bên phải trên mặt đường nhựa. Đầu xe quay về hướng Đông N, đuôi xe quay về hướng Tây Bắc. Tâm trục bánh trước của xe đo vào mép phải là 3,2m. Tâm trục bánh sau đo vào mép chuẩn là 4,1m. Tâm trục bánh trước đo đến mốc là 34,5m, tâm trục bánh sau đến đầu tử thi là 2,5m.

(3) là vị trí xe mô tô 43K1-193.04 nằm ngã qua tay lái bên trái trên mặt đường nhựa. Đầu xe hướng Tây N, đuôi xe hướng Đông Bắc. Tâm trục bánh trước của xe mô tô đo vào mép phải là 20cm. Tâm trục bánh sau của xe mô tô đo từ ngoài lề vào mép phải là 55cm. Từ tâm trục bánh sau xe mô tô đo về hướng cầu Cửa Đại là 5,35m là vạch dừng đèn đỏ; đo đến 7,55m là vạch dành cho người đi bộ.

(4) là hệ thống vết cày không liên tục trên mặt đường nhựa. Điểm đầu vết cày hướng Thăng Bình, điểm cuối vết cày nằm dưới gác để chân trước bên trái của xe mô tô 43K1-193.04. Chiều dài vết cày là 19m39cm, nơi rộng nhất của vết cày là 60cm. Điểm đầu vết cày đo đến tâm trục bánh sau của xe mô tô 92H1-134.78 là 4m30, đo vào mép chuẩn là 2,2m.

* Tại Bản kết luận pháp y tử thi số 122/KL-KTHS (PY) ngày 16/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N kết luận: Ông Phan Quốc V, sinh năm 2000 chết do sốc chấn thương, sốc tủy gây suy hô hấp - suy tuần hoàn cấp không hồi phục, hậu quả của đa chấn thương (chấn thương ngực kín, chấn thương cột sống - tủy sống cổ)./.

* Căn cứ phiếu đo nồng độ cồn lúc 20 giờ 19 phút ngày 03/6/2022 của Bệnh viện đa khoa Hội An thể hiện trong cơ thể bị cáo Trần V B có nồng độ cồn là 0.382mg/L khí thở.

Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 08/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên đã truy tố bị cáo Trần V B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần V B theo như Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền 232.000.000 đồng, trong đó mai táng phí là 80.000.000 đồng, chi phí sửa xe là 3.000.000 đồng và tổn thất về tinh thần là 149.000.000 đồng. Bị cáo B đã bồi thường được số tiền 180.000.000 đồng, đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền còn lại theo yêu cầu.

Bị cáo Trần V B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: yêu cầu bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền 232.000.000 đồng, trong đó chi phí mai táng là 80.000.000 đồng, tiền sửa xe máy là 3.000.000 đồng, bồi thường tổn thất tinh thần là 149.000.000 đồng (100 tháng lương tối thiểu).

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Phân tích những chứng cứ xác đ nh có tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 03/6/2022, Trần V B đã có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô hiệu Sirius biển kiểm soát 92H1-134.78 đi từ đường bê tông thuộc thôn Thuận An, xã Duy Nghĩa lên hướng ngã tư cầu Cửa Đại để về Thăng Bình. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường bê tông thôn Thuận An với đường Võ Chí Công (có đèn giao thông nhưng không hoạt động do trời mưa to, mất điện), B điều khiển xe đến đường Võ Chí Công thì rẽ trái đi vào làn đường dành cho người và phương tiện lưu hành theo hướng Thăng Bình - Hội An mục đích để sang làn đường dành cho phương tiện lưu hành hướng đi Thăng Bình. Khi B điều khiển xe đi được khoảng 05m thì va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát 43K1-193.04 do Phan Quốc V điều khiển lưu hành trên đường Võ Chí Công theo hướng Thăng Bình - Hội An theo chiều đi của mình làm anh V ngã xuống đường tử vong tại chỗ, B bị thương nhẹ.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Trần Văn B nêu trên đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên đã truy tố.

Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của b cáo:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng. Khi thực hiện hành vi nêu trên bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhưng bị cáo không chấp hành các quy định về tham gia giao thông đường bộ, biết rõ bản thân điều khiển xe mô tô khi đã sử dụng rượu bia là hành vi bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện dẫn đến tai nạn giao thông với hậu quả làm chết người. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại tổng số tiền 180.000.000 đồng nên bị cáo được áp dụng các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo B có công với cách mạng nên bị cáo Trần V B còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do bị cáo B có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên HĐXX thống nhất áp dụng Điều 54 cho bị cáo như quan điểm của Kiểm sát viên. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi thường trú rõ ràng nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo được hưởng án treo như quan điểm của Kiểm sát viên.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 80.000.000 đồng mai táng phí, 3.000.000 đồng tiền sữa chữa xe máy, 149.000.000 đồng bồi thường tổn thất về tinh thần. Bị cáo B đã thống nhất bồi thường chi phí mai táng 80.000.000 đồng, tiền sửa xe 3.000.000 đồng và tổn thất tinh thần với số tiền 180.000.000 đồng, số tiền còn bị cáo đề nghị HĐXX xem xét theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần của người đại diện hợp pháp của bị hại thì thấy: Theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự, tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm không quá 100 tháng lương tối thiểu. Ông N và bà Đ có hai người con trai, anh V là con đầu. Tuy nhiên xét bị cáo B có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính nuôi mẹ già và 03 con nhỏ nên HĐXX buộc bị cáo B phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần là 80 tháng lương tối thiểu, tương ứng với số tiền 119.200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền bồi thường thiệt hại HĐXX chấp nhận và buộc bị cáo Trần V B phải có nghĩa vụ bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là 119.200.000 đông + 80.000.000 đồng + 3.000.000 đồng = 202.200.000 đồng (hai trăm lẻ hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo B đã bồi thường được cho gia đình bị hại số tiền 180.000.000 đồng. Bị cáo B phải có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường số tiền 22.200.000 đồng (hai mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng: Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng gồm: 01(một) xe mô tô biển kiểm soát 43K1-193.04 và xe mô tô hiệu Sirius biển kiểm soát 92H1-134.78; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Duy Xuyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo Trần V B phải chịu án án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội: “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”;

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Văn B 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 36 (B mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/6/2023).

Giao bị cáo cho Ủy Bn nhân dân xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 buộc bị cáo Trần Văn B phải có nghĩa vụ bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 202.200.000 đồng (hai trăm lẻ hai triệu hai trăm nghìn đồng). Bị cáo B đã bồi thường được số tiền 180.000.000 đồng. Bị cáo B phải có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường số tiền 22.200.000 đồng (hai mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Án phí: Bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí HS-ST và 1.110.000 đồng (một triệu một trăm mười nghìn đồng) án phí DS-ST về nghĩa vụ bồi thường.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/5/2023).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ