vanban.org

Bản án 31/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Đức H, sửa bản án sơ thẩm.

1. Xử phạt bị cáo Lê Đức H 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. 2. Về án phí: Bị cáo Lê Đức H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Đức H, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HS-PT
Ngày: 16-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.

Các Thẩm phán: Ông Lê Xuân Hải.

Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 09/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Lê Đức H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 223/2022/HS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Đức H, sinh năm 1994 tại huyện P, tỉnh Bình Định; nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum; tạm trú: 88 T, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ làm kính; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Lê Văn Q, sinh năm 1970 và bà: Nguyễn Thị S, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 18/6/2022, Lê Đức H (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển số 77L1-979.XX đi từ phòng trọ ở 49 N, phường N, thành phố Q, đến làm việc tại tiệm mắt kính “K” ở 327 đường L, thành phố Q. H điều khiển xe đi theo đường L hướng về vòng xoay “Tượng đài Quang Trung”. Đến khoảng 13 giờ 55 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường trước nhà 14 L, phường L, thành phố Q, lúc này bà Trương Thị Thu H đi bán vé số, đang đi bộ qua đường L trên phần vạch kẻ đường dành cho người đi bộ (hướng từ Nam - Bắc) và đang ở khoảng giữa đường. Do không quan sát, không giảm tốc độ để nhường đường, nên H để phần đầu xe mô tô biển số 77L1-979.XX tông vào bà Trương Thị Thu H gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả bà H bị thương được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định cấp cứu đến ngày 21/6/2022 thì chết.

Tại kết luận giám định pháp y về tử thi số 234/2022/PY-TT ngày 15/7/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận: Nguyên nhân chết của bà Trương Thị Thu H là do chấn thương sọ não, vỡ sọ chảy máu nội sọ chèn ép não điều trị không hồi phục.

Về dân sự: Bị cáo Lê Đức H đã bồi thường cho gia đình bị hại Trương Thị Thu H 32.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 223/2022/HS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Đức H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 21 tháng 12 năm 2022, bị cáo Lê Đức H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Đức H, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Đức H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 13 giờ 55 phút ngày 18/6/2022, bị cáo Lê Đức H có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 77L1-979.XX tham gia giao thông. Khi đi đến trước số nhà 14 đường L, phường L, thành phố Q, do thiếu sự quan sát, không giảm tốc độ, nên bị cáo H đã để phần đầu xe mô tô do mình điều khiển tông vào bà Trương Thị Thu H đang đi bộ qua đường trên vạch kẻ đường dành cho người đi bộ theo hướng Nam

- Bắc, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả, bà H chết do chấn thương sọ não, vỡ sọ chảy máu nội sọ chèn ép não điều trị không hồi phục. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Lê Đức H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác và trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị hại bãi nại cho bị cáo, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, sau khi gây ra tai nạn, bị cáo đã tích cực đưa bị hại đi cấp cứu, chăm sóc bị hại trong thời gian nằm viện và tới nhà bị hại để cùng lo hậu sự, được gia đình bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

Về án phí: Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội thì kháng cáo của bị cáo Lê Đức H được chấp nhận một phần, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Đức H, sửa bản án sơ thẩm.

1.1. Xử phạt bị cáo Lê Đức H 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

1.2. Về án phí: Bị cáo Lê Đức H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

2. Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ