vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Minh P với bị đơn ông Nguyễn Ngọc T về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”.

Xác định ông Hoàng Minh P, sinh năm 1989; nơi cư trú: 1, phường A, quận Cẩm L, thành phố Đà Nẵng là cha đẻ của cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/01/2017 theo Giấy khai sinh số 17 ngày 08/02/2017 của UBND xã T, huyện Thăng T1, tỉnh Quảng Nam. Ông Hoàng Minh P, bà Võ Thị L H, ông Nguyễn Ngọc T được quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xác nhận cha con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Minh P với bị đơn ông Nguyễn Ngọc T về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày 21-7-2023
“V/v Tranh chấp xác định cha cho con” .

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tán Nghị

Bà Lê Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lê Mai Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 48/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hoàng Minh P, sinh năm: 1989; địa chỉ: 1, phường A, quận Cẩm L, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện Hòa V, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị L H, sinh năm 1990; địa chỉ: 1, phường A, quận Cẩm L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, biên bản ghi nhận ý kiến tại phiên hòa giải, bản tự khai, nguyên đơn ông Hoàng Minh P trình bày:

Vào năm 2016, ông Hoàng Minh P và bà Võ Thị L H có mối quan hệ tình cảm nam nữ với nhau nhưng không đi đến kết hôn. Sau đó bà Võ Thị L H vào Đà Nẵng làm việc, sinh sống quen biết, kết hôn với ông Nguyễn Ngọc T và bà H sinh cháu Nguyễn Ngọc T, làm giấy khai sinh cháu Tài, sinh ngày 07/01/2017. Thông tin trên giấy khai sinh cháu Tài: Quê quán: xã T, huyện Thăng T1, tỉnh Quảng N có cha là ông Nguyễn Ngọc T và mẹ là bà Võ Thị L H (Theo Giấy khai sinh số 17 ngày 08/02/2017 của UBND xã T, huyện Thăng T1, tỉnh Quảng N). Trong quá trình chung sống, giữa bà H và ông T xảy ra mâu thuẫn do biết cháu Nguyễn Ngọc T không phải là con của bà H và ông T. Do vậy, bà Võ Thị L H và ông Nguyễn Ngọc T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 39/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Theo nội dung Quyết định ly hôn thì cháu Tài được giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông T cũng không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng.

Theo kết quả phân tích AND số 106/ĐG.22/SĐNA ngày 23/8/2022 của Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ GENPLUS kết luận: Ông Hoàng Minh P có quan hệ huyết thống bố con với Nguyễn Ngọc T, độ tin cậy >99,999%. Ông P đã gặp ông T để xin làm thủ tục xác định lại cha cho con nhưng ông T không đồng ý. Nên ông P viết đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận ông P là cha ruột của cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/01/2017.

Tại Kết luận giám định số 51/KL-KTHS ngày 24/5/2023 tại Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định: Cháu Nguyễn Ngọc T là con đẻ của bà Võ Thị L H với ông Hoàng Minh P. Ông P thống nhất với kết luận giám định.

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị L H trình bày:

Bà H xác định bà với ông P quen nhau và có quan hệ nam nữ với nhau, nhưng do hoàn cảnh bà vào thành phố Đà Nẵng sinh sống và quen ông Nguyễn Ngọc T, sau đó đăng ký kết hôn với ông T, trong thời gian kết hôn với ông T có sinh hạ được cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/01/2017. Khi đi đăng ký khai sinh ghi phần họ tên cha: Ông Nguyễn Ngọc T. Do biết cháu Tài không phải con ruột của mình nên bà H với ông T ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 39/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang. Bà xác định cháu Tài là con đẻ của bà với ông Hoàng Minh P nên ông P khởi kiện xác định ông P là cha của cháu Tài là đúng nên bà H chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Riêng đối với bị đơn vắng mặt, người liên quan xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Đây là phiên tòa mở lại lần hai, do đó quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và người liên quan đã được đảm bảo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

. Nguyên đơn ông Hoàng Minh P khởi kiện tranh chấp xác định cha cho con đối với bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T cư trú Thôn A, xã S, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

. Tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, trong đó người liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Phiên tòa được mở lại lần thứ hai nên quyền lợi và nghĩa vụ của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được bảo đảm. Căn cứ quy khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung: Ông Hoàng Minh P khởi kiện ông Nguyễn Ngọc T, yêu cầu Tòa án công nhận ông P là cha ruột của cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/01/2017.

. Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Hoàng Minh P thì thấy :

Ông Nguyễn Ngọc T và bà Võ Thị L H kết hôn hợp pháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 03/10/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Hải Quế, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ Giấy khai sinh số 17 ngày 08/02/2017 của UBND xã T, huyện Thăng T1, tỉnh Quảng Nam thì trong thời kỳ hôn nhân, ông T và bà H có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/01/2017. Năm 2022 ông T và bà H đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 39/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang. Theo nội dung Quyết định ly hôn thì, ông T và bà H thống nhất giao con (cháu Tài) cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng.

. Theo kết luận giám định số 51/KL-KTHS ngày 24/5/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận thì: Ông Hoàng Minh P và Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/01/2017 (Giấy khai sinh số 17 ngày 08/02/2017 của UBND xã T, huyện Thăng T1, tỉnh Quảng Nam) có quan hệ huyết thống cha - con.

. Trong quá trình giải quyết vụ án ông P và bà H cùng xác nhận trước khi kết hôn với ông T, bà H đã có quan hệ nam nữ với ông P nên mặc dù cháu Nguyễn Ngọc T được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với ông T nhưng Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/01/2017 không phải là con đẻ của ông Nguyễn Ngọc T mà là con đẻ của ông Hoàng Minh P.

Từ những tài liệu, chứng cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định ông Hoàng Minh P là cha đẻ của cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/01/2017. Do đó, yêu cầu của ông Hoàng Minh P là có căn cứ, phù hợp thực tế và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án và Danh mục án phí, L phí Tòa án (ban hành kèm theo) ông Hoàng Minh P phải chịu.

. Về chi phí giám định là 12.543.000đ (mười hai triệu, năm trăm bốn ba ngàn đồng), ông P đã nộp và chi xong. Ông P xin tự nguyện chịu nên không xem xét.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 89, Điều 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2102 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Minh P với bị đơn ông Nguyễn Ngọc T về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”.

Tuyên xử :

1. Xác định ông Hoàng Minh P, sinh năm 1989; nơi cư trú: 1, phường A, quận Cẩm L, thành phố Đà Nẵng là cha đẻ của cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/01/2017 theo Giấy khai sinh số 17 ngày 08/02/2017 của UBND xã T, huyện Thăng T1, tỉnh Quảng Nam.

2. Ông Hoàng Minh P, bà Võ Thị L H, ông Nguyễn Ngọc T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cải chính hộ tịch cho cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 07/01/2017 (Giấy khai sinh số 17 ngày 08/02/2017 của UBND xã T, huyện Thăng T1, tỉnh Quảng Nam) theo quy định pháp luật.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Hoàng Minh P phải chịu. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông P đã nộp theo biên lai thu số 0009212 ngày 24/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang. Ông P nộp đủ án phí.

4. Về chi phí giám định là 12.543.000đ (mười hai triệu, năm trăm bốn ba ngàn đồng), công nhận sự tự nguyện chịu của ông P.

5. Về kháng cáo:

- Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 21/7/2023.

- Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ