- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Nguyễn Thị O- Huỳnh Tấn H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST Ngày 28-4-2023 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Phước
Ông Đào Khel
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 14/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm: 1984 (có mặt).
Hộ khẩu thường trú: Số E đường D, khóm H, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ số 09, phòng số E, đường V, khóm A, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Tấn H, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Hộ khẩu thường trú: Số E đường D, khóm H, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Số B đường T, khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 01 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị O trình bày:
Bà và ông Huỳnh Tấn H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2001, có đăng ký kết hôn trễ hạn và được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29, ngày 22/02/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn không khắc phục được, tính tình trái ngược nhau dẫn đến cải vã thường xuyên. Ông, bà đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2021 đến nay. Quá trình chung sống ông, bà có hai người con chung tên Huỳnh Tấn H1 (nam, sinh ngày 11/01/2003) và Huỳnh Tấn H2 (nam, sinh ngày 13/01/2006) hiện đang sống chung với ông H và không có tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Tấn H.
Về con chung: Bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung Huỳnh Tấn H2 (nam, sinh ngày 13/01/2006) đến khi cháu H2 đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Huỳnh Tấn H1 (nam, sinh ngày 11/01/2003) đã trên 18 tuổi có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà O tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Huỳnh Tấn H từ khi tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến gì.
- Ý kiến của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Tấn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn H.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O, về quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị O và ông Huỳnh Tấn H không vi phạm các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn không khắc phục được, tính tình trái ngược nhau dẫn đến cải vã thường xuyên. Tại tòa bà O xác định không còn tình cảm với ông H, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không còn khả năng hàn gắn, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc và kiên quyết xin ly hôn với ông H. Đồng thời, ông H, bà O đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2021 đến nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà O được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung Huỳnh Tấn H2 (nam, sinh ngày 13/01/2006) đến khi cháu H2 đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Huỳnh Tấn H1 (nam, sinh ngày 11/01/2003) đã trên 18 tuổi có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu H2, cháu H2 có nguyện vọng được sống chung với bà O. Xuất phát từ mọi lợi ích của cháu H2, tránh xáo trộn môi trường sống ảnh hưởng đến tâm lý của cháu H2. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà O, giao cháu H2 cho bà O được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu H2 đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà O không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị O, tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Như đã phân tích nêu trên, Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở chấp nhận.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị O và ông Huỳnh Tấn H.
2. Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung tên Huỳnh Tấn H2 (nam, sinh ngày 13/01/2006) cho bà Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu H2 đủ 18 tuổi. Ông Huỳnh Tấn H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Huỳnh Tấn H1 (nam, sinh ngày 11/01/2003) đã trên 18 tuổi có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ông Huỳnh Tấn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị O tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000934 ngày 06/01/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; bà Nguyễn Thị O đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Ông Huỳnh Tấn H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSNDTPST; - Chi cục THADSTPST; - Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bích Tuyền |