vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 25/09/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thanh H.

Bà Võ Thị Thanh H được ly hôn với ông Loh Kum L. Về con chung: Bà Võ Thị Thanh H được tiếp tục nuôi dạy cháu Loh Yong Soon, sinh ngày 20/11/2015. Ông Loh Kum L được quyền thăm con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình, Ly hôn - bà Võ Thị Thanh Huơng và ông Loh Kum Leng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25/9/2023
V/v tranh chấp “hôn nhân
và gia đình, ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Tố Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Cương;

2. Bà Lê Kim Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Thanh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang không tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HN ngày 27 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-HN ngày 16/5/2023, Thông báo mở lại phiên tòa, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thanh H, sinh năm 1993, nơi cư trú: số 993, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Loh Kum L, sinh năm 1971, nơi cư trú: No 335 Taman Sri Mahsan 72100 Bahau Negeri Sem B, Malaysia, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Võ Thị Thanh H trình bày:

Vào năm 2011 bà Võ Thị Thanh H sang Malaysia qua mai môi giới tiến tới hôn nhân với ông Loh Kum L có đăng ký kết hôn tại Malaysia và đã ghi vào sổ đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn giữa bà H và ông Loh Kum L phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ, thường hay cãi nhau nên bà H không còn tình cảm. Nay bà H làm đơn khởi kiện ly hôn với ông Loh Kum L.

Về con chung tên Loh Yong S, sinh ngày 20/11/2015 hiện đang sống với bà H, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu Loh Kum L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Loh Kum L đã được Tòa án làm thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt Thông báo thụ lý và Lịch làm việc của Tòa án. Kết quả ủy thác của Bộ Ngoại Giao (Cục Lãnh sự) đã thực hiện ủy thác nêu trên vào ngày 27/3/2023 bằng pH thức tống đạt trực tiếp hồ sơ cho đương sự, nhưng quá hạn ông Loh Kum L không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gửi về cho Tòa án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai.

Tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa công bố các đơn và tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Loh Kum L, sinh năm 1971 có nơi cư trú tại Malaysia, nguyên đơn có nơi cư trú tại số 993, ấp Vĩnh Hòa 1, xã Vĩnh Nhuận, huyện C, tỉnh An Giang. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vụ án hôn nhân và gia đình không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên không có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Bộ Ngoại Giao (Cục Lãnh sự) tống đạt Thông báo thụ lý và Lịch làm việc, xét xử của Tòa án nhưng vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân của bà Võ Thị Thanh H và ông Loh Kum L tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Malaysia và đã ghi vào sổ đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn khởi kiện ly hôn và trình bày nguyên nhân xin ly hôn là do phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ, thường hay cãi nhau nên bà H không còn tình cảm.

Bị đơn ông Loh Kum L đã được Bộ Ngoại Giao (Cục Lãnh sự) đã thực hiện ủy thác nêu trên vào ngày 27/3/2023 bằng pH thức tống đạt trực tiếp hồ sơ cho đương sự Thông báo thụ lý và Lịch làm việc, xét xử của Tòa án nhưng vắng mặt lần thứ hai, không gửi ý kiến của mình về yêu cầu ly hôn của bà H cho Tòa án và cũng không đến Tòa án theo lịch làm việc.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung đã không còn trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn bị đơn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung; Có 01 con chung tên Loh Yong Soon, sinh ngày 20/11/2015 hiện đang sống với bà H, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu Loh Kum L cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét đến.

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp là 200.000 đồng.

Về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài bà H đã nộp tạm ứng là 3.000.000 đồng. Do cơ quan có thẩm quyền thực hiện ủy thác tư pháp không yêu cầu trả chi phí nên bà H không phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Bà H được nhận lại tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp đã nộp là 3.000.000 đồng.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thanh H.

1. Bà Võ Thị Thanh H được ly hôn với ông Loh Kum L.

2. Về con chung: Bà Võ Thị Thanh H được tiếp tục nuôi dạy cháu Loh Yong Soon, sinh ngày 20/11/2015. Ông Loh Kum L được quyền thăm con chung.

Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Võ Thị Thanh H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000067 ngày 01/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Võ Thị Thanh H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về lệ phí ủy thác tư pháp:

Bà Võ Thị Thanh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng chi phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0068334 ngày 06/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà H đã nộp đủ lệ phí ủy thác.

Hoàn trả cho bà Võ Thị Thanh H tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000218 ngày 06/12/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang

Thời hạn kháng cáo của Võ Thị Thanh H là 15 ngày kể ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Thời hạn kháng cáo của ông Loh Kum L là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

Cỡ chữ