- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lương Đức H được ly hôn chị Hoàng Thị Hải V.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST Ngày 09-5-2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thoan.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lại Văn Cán
2. Ông Trần Ngọc Ánh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lương Đức H, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị Hải V, sinh năm 1990;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk;
Chỗ ở hiện nay: Khu công nghiệp U, xã L, huyện M,, tỉnh Bình Dương.
(Anh H, chị V vắng mặt, đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 12 năm 2022, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lương Đức H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị Hải V tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 06 tháng 8 năm 2010. Sau khi kết hôn anh chị chung sống năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi chửi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Tháng 10 năm 2017, chị V bỏ nhà đi không xin phép, không hỏi ý kiến anh. Anh chị ly thân từ thời điểm đó, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị Hải V.
Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị Hải V có 02 con chung là Lương Hoàng Tiến M, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2010 và Lương Hoàng L, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2012, hiện đang sống cùng anh. Ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Lương Hoàng Tiến M và Lương Hoàng L, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh lao động tự do, thu nhập khoảng 15 triệu đồng/1 tháng. Anh và các con chung của anh chị đang sống cùng bố mẹ anh, bố mẹ anh có chỗ ở ổn định tại Thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Về tài sản: Anh và chị Hoàng Thị Hải V không có tài sản chung, không có nợ chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại văn bản trình bày ý kiến và xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử đề ngày 13 tháng 3 năm 2023, bị đơn chị Hoàng Thị Hải V trình bày:
Chị và anh Lương Đức H tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 06 tháng 8 năm 2010 tại UBND xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách không hợp nhau. Chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại tỉnh Đắk Lắk sống từ năm 2017 sau đó chuyển đến Bình Dương làm việc. Anh chị sống ly thân từ thời điểm đó, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh H xin ly hôn chị, chị đồng ý ly hôn với anh H.
Chị và anh Lương Đức H có 02 con chung là Lương Hoàng Tiến M, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2010 và Lương Hoàng L, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2012, hiện hai con đang sống cùng anh H và gia đình anh H. Từ năm 2017 khi chị về Đắk Lắk, các con do anh H và bố mẹ anh H nuôi dưỡng, chăm sóc. Các cháu phát triểu tốt. Để đảm bảo cho các cháu ổn định cuộc sống cũng như học tập và sinh hoạt. Ly hôn chị đồng ý để anh H nuôi 02 con, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị và anh Lương Đức H không có tài sản chung, không nợ cá nhân, tổ chức nào, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Hiện nay chị đang làm việc và sinh sống tại tỉnh Bình Dương, chị đồng ý lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư là nơi thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị và anh H. Chị làm công nhân xin nghỉ rất khó và ở xa nên việc đi lại khó khăn, chị không thể đến Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư để tham gia tố tụng được. Chị và anh H đã sống ly thân từ lâu nên chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và chị xin vắng mặt trong quá trình tham gia tố tụng tiếp theo tại Tòa án. Chị xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị và anh H.
* Tại biên bản xác minh ngày 07 tháng 4 năm 2023, đại diện UBND xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình và cơ sở thôn cung cấp như sau: Anh Lương Đức H và Chị Hoàng Thị Hải V tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 06 tháng 8 năm 2020. Sau khi kết hôn anh chị chung sống đến năm 2017 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chị Hoàng Thị Hải V và Anh Lương Đức H không chung sống cùng nhau từ năm 2017 đến nay. Nay anh H xin ly hôn chị Vân, quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết cho anh H và chị V ly hôn để anh chị ổn định cuộc sống. Về con chung: Anh Lương Đức H và chị Hoàng Thị Hải V có 02 con chung như anh H đã trình bày. Hiện tại cháu M học lớp 7, cháu L học lớp 5 trường Tiểu học và Trung học cơ sở xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Từ nhỏ các con chung của anh chị đã sống cùng anh H và gia đình anh H. Anh H có chỗ ở, hiện tại làm sơn, thu nhập ổn định khoảng 15 triệu đồng/1 tháng. Quá trình sống cùng anh H, cháu M, cháu L phát triển khỏe mạnh, bình thường, anh H chăm sóc các con tất tốt. Trường hợp Tòa án giải quyết cho anh H và chị Vly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật, nguyện vọng của anh H, chị Vđể giải quyết, đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho con chung của anh chị. Về tài sản: Anh Lương Đức H và Chị Hoàng Thị Hải V không có tài sản chung, không có nợ chung.
* Tại bản tự khai, cháu Lương Hoàng Tiến M và cháu Lương Hoàng L có nguyện vọng: Trường hợp bố mẹ các cháu ly hôn, các cháu xin được ở với bố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Anh Lương Đức H ly hôn Chị Hoàng Thị Hải V.
Về con chung: Anh Lương Đức H và Chị Hoàng Thị Hải V có 02 con chung là Lương Hoàng Tiến M, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2010 và Lương Hoàng L, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2012. Ly hôn, giao cho Anh Lương Đức H trực tiếp nuôi dưỡng 02 con Lương Hoàng Tiến M và Lương Hoàng L, chấp nhận việc Anh Lương Đức H không yêu cầu Chị Hoàng Thị Hải V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Anh Lương Đức H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Anh Lương Đức H khởi kiện xin ly hôn với chị Hoàng Thị Hải V. Chị Hoàng Thị Hải V đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên chị V đồng ý Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình là Tòa án nơi anh H cư trú giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị và anh H. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Anh Lương Đức H và chị Hoàng Thị Hải V vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Lương Đức H và chị Hoàng Thị Hải V được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống anh chị đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, cách sống. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Anh chị đều xác định tình cảm không còn và thống nhất ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh H và chị Vđã căng thẳng, cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho anh Lương Đức H được ly hôn chị Hoàng Thị Hải V.
Quan hệ con chung: Anh Lương Đức H và chị Hoàng Thị Hải V có 02 con chung là Lương Hoàng Tiến M, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2010 và Lương Hoàng L, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2012. Ly hôn anh Lương Đức H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị Hoàng Thị Hải V cấp dưỡng nuôi con. Chị Hoàng Thị Hải V nhất trí với quan điểm của anh H về vấn đề con chung. Xét nguyện vọng của anh H và chị V, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cho anh Lương Đức H trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Lương Hoàng Tiến M và Lương Hoàng L. Anh Lương Đức H không yêu cầu chị Hoàng Thị Hải V cấp dưỡng nuôi con.
Quan hệ tài sản: Anh Lương Đức H và chị Hoàng Thị Hải V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Anh Lương Đức H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Anh Lương Đức H và chị Hoàng Thị Hải V có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lương Đức H được ly hôn chị Hoàng Thị Hải V.
2. Quan hệ con chung: Anh Lương Đức H và chị Hoàng Thị Hải V có 02 con chung là Lương Hoàng Tiến M, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2010 và Lương Hoàng L, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2012. Giao cho anh Lương Đức H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lương Hoàng Tiến M và Lương Hoàng L. Anh Lương Đức H không yêu cầu chị Hoàng Thị Hải V cấp dưỡng nuôi con. Chị Hoàng Thị Hải V có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh Lương Đức H và chị Hoàng Thị Hải V có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
3. Quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Anh Lương Đức H tự nguyện nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền thu tạm ứng án phí tại biên lai số 0001764 ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình sang thành tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Anh Lương Đức H và chị Hoàng Thị Hải V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - UBND xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |