vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị Ngọc T - Danh Thanh H"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PL
TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/3/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL– TỈNH BL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Tú Phương 2. Ông Mai Quốc Bảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện P L, tỉnh BL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P L, tỉnh BL tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện PLxét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Thị Ngọc T, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp A T, xã Đ A, huyện G Q, tỉnh K G. 2. Bị đơn: Anh Lý Minh P, sinh năm 1979.

Địa chỉ: ấp P T, xã P L, huyện P L, tỉnh BL.

(Chị T và anh P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Thị Ngọc T trình bày: Về hôn nhân: Chị và anh P tự nguyện sống chung từ năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PLvà được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 9 năm 2022 do sống chung không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn và không còn tình cảm. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh P. Về con chung: Chị và anh P không có con chung, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Lý Minh P trình bày: Về hôn nhân: Anh thống nhất về thời gian sống chung, đăng ký kết hôn và ly thân như chị T trình bày. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh thống nhất không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Anh thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PLphát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: + Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị T được ly hôn với anh P. + Về con chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. + Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. + Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định: [2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh P, anh P đang cư trú trên địa bàn huyện PLnên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện PLthụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Chị T và anh P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị T và anh P là phù hợp theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. [3] Về hôn nhân: Chị T và anh P tự nguyện sống chung từ năm 2019 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P là hôn nhân hợp pháp, tuy nhiên chị T và anh P đã ly thân từ tháng 9 năm 2022 đến nay. Xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng chị T và anh P không sống chung với nhau mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân. Mặt khác, anh P đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị T và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh P. [4] Về con chung: Chị T và anh P thống nhất không con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. [5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. [6] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. [7] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh P không phải chịu án phí. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ vào các Điều 19, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Cho chị Thị Ngọc T ly hôn anh Lý Minh P. 2. Về con chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. 4. Về án phí: Chị Thị Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị T đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005655 ngày 02/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PLnên được chuyển sang thu án phí. Anh Lý Minh P không phải chịu án phí. 5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ