- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V ly hôn Q"
- Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 3 - 2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Giao.
Ông Đỗ Văn Cận.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 183/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
NgU đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1994; Tổ dân phố D, thị trấn Q, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1992; Tổ dân phố D, thị trấn Q, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 21-11-2022, bản tự khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, ngU đơn chị Nguyễn Thị V trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Q tự nguyện tìm hiểu đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08-5-2020. Sau cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc một năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh Q, hay chơi bời dẫn đến nợ. Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Tú U, sinh ngày 18-10-2020, hiện đang ở với chị. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q; chị nhận nuôi con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng; không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản.
Tại biên bản làm việc ngày 21-12-2022, bà Đặng Thị Hiên trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Q. Anh Q và chị V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q vào ngày 08-5-2020 và được gia đình tổ chức đám cưới. Mâu thuẫn giữa chị V và anh Q là do không hợp nhau. Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Tú U, sinh ngày 18-10-2020, hiện đang ở với chị V và hiện nay không vưỡng mắc gì về kinh tế. Do anh Q bận công việc không nên Tòa án để giải quyết việc ly hôn giữa anh Q và chị V theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản làm việc ngày 21-12-2022 đại diện chính quyền địa phương, cơ sở thị trấn Q cung cấp: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn Q đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trất Q vào năm 2020. NgU nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do không hợp nhau. Vợ chồng có 01 con chung, hiện đang ở với chị V; không vướng mắc gì về kinh tế đối với địa phương. Nay chị V có đơn ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Văn Q; về con chung: Giao chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Tú U, sinh ngày 18-10-2020; anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị V. Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị V có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn Q tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định vào ngày 08-5-2020 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh Q mâu thuẫn đã trầm trọng, nếu kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, chấp nhận nguyện vọng của chị V xin ly hôn anh Q là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn Q có 01 con chung là: Nguyễn Tú U, sinh ngày 18-10-2020, hiện đang ở với chị V. Căn cứ nguyện vọng của đương sự và để đảm bảo sự phát triển tốt nhất của con chung, vì vậy nên tiếp tục giao chị V trực tiếp nuôi con chung. Chấp nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm; Chị V, anh Q có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/U BTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn Q.
2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Tú U, sinh ngày 17-10-2020 cho đến khi con chung 18 tuổi. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị V phải nộp 300.000 đồng. Chị V đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0000362 ngày 01-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy; nay đối trừ, chị V đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - UBND thị trấn Q; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Thị Thu Hiền |