- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thu kiện Minh"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với ông Lê Hữu M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11 – 4 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Cho
2. Bà Trương Ngọc Điệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 421/2022/TL.ST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T
Địa chỉ: Ấp 4A, thị trấn BN, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Lê Hữu M
Địa chỉ: Ấp XM, thị trấn RG, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày: Bà và ông Lê Hữu M quen biết và tìm hiểu một thời gian thì tự nguyện tiến tới hôn nhân. Gia đình có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2016. Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu Tẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, trong cách chăm sóc gia đình và giáo dục con chung nên cả hai không tìm được tiếng nói chung khiến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến nay thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài vì vậy bà T yêu cầu được ly hôn với ông M.
Về con chung: Có 02 con chung là Lê Ngọc T (nữ) sinh ngày 10/02/2017 và Lê Ngọc T (nữ) sinh ngày 05/11/2018. Hai cháu hiện đang sống với bà T. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình tố tụng bị đơn là ông Lê Hữu M vắng mặt, Tòa án đã nhiều lần T tập hợp lệ nhưng ông M không đến Tòa án nên không lấy được lời khai của ông M.
Tại phiên tòa: Bà T vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông M vắng mặt không rõ lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đúng về thời hạn cũng như trình tự thủ tục. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không rõ lý do dù đã được triệu tập hợp lệ hai lần vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị T đối với ông Lê Hữu M; Về con chung: Giao hai cháu Lê Ngọc T (nữ) sinh ngày 10/02/2017 và Lê Ngọc T (nữ) sinh ngày 05/11/2018 cho bà Phạm Thị T nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung nên ông M chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị T và ông Lê Hữu M do phát sinh mâu Tẫn trong đời sống hôn nhân và gia đình mà không thể hàn gắn tình cảm được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông M. Ông M có địa chỉ cư trú ở ấp Xáng Mới, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là vụ án tranh chấp ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ hai lần. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giải quyết vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa bà T và ông M tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống giữa bà T và ông M phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà T là do bất đồng quan điểm sống và chăm sóc gia đình. Đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông M.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là Lê Hữu M vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Từ đây có thể thấy ông M không có thiện chí hàn gắn, không còn trân trọng cuộc hôn nhân với bà T. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông M và bà T đã đến mức trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông M.
Về con chung: Bà T khai bà và ông M có 02 con chung là Lê Ngọc T (nữ) sinh ngày 10/02/2017 và Lê Ngọc T (nữ) sinh ngày 05/11/2018. Các cháu hiện sống với bà. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, ông M không đến Tòa án để trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao hai cháu T và T cho bà T nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung nên ông M chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí: Bà Phạm Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.
. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 267, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với ông Lê Hữu M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Lê Hữu M.
2. Về con chung: Giao 02 (hai) cháu Lê Ngọc T (nữ) sinh ngày 10/02/2017 và Lê Ngọc T (nữ) sinh ngày 05/11/2018 cho bà Phạm Thị T nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu đủ 18 (mười tám) tuổi. Bà Phạm Thị T không yêu cầu ông Lê Hữu M cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Lê Hữu M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
4. Về án phí: Bà Phạm Thị T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai số 0012275 ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (Bà T đã nộp xong án phí).
5. Nguyên đơn bà Phạm Thị T và bị đơn ông Lê Hữu M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - CQ THA DS h.Châu Thành A; - VKSND h.Châu Thành A; - UBND thị trấn Rạch Gòi; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Chúc Linh |