- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Trà G ly hôn Nguyễn Văn B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Trà G đối với ông Nguyễn Văn B về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22-3-2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ t a phiên toà: Bà Phan Thu Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Ẩn.
2. Bà Nguyễn Thị Hưởng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ngày 22 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 469/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Trà G, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Ấp 9, xã Lương H, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp 1B, xã An Th, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
(Bà G có đơn xin xét xử vắng mặt, ông B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 06/6/2022, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Trà G trình bày:
Do quen biết và được gia đình hai bên đồng ý nên vào năm 2019 bà và ông Nguyễn Văn B xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã An Th, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/12/2019.
Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại ấp 1B, xã An Th, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng bà đã ly thân hơn 01 tháng nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông B.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống bà và ông B có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Tuấn Kiệt, sinh ngày 02/9/2020. Hiện con chung đang sống với ông B, khi ly hôn bà đồng ý để ông B được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Phạm Tuấn Kiệt, bà đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Sự việc đã được Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập thủ tục hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn ông Nguyễn Văn B vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.
Nguyên đơn bà Phạm Thị Trà G vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Phạm Thị Trà G khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn B, bà đồng ý để ông B được trực tiếp nuôi con chung và đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Bến Lức thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Nguyên đơn bà Phạm Thị Trà G có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà G và ông B.
Về nội dung tranh chấp:
ét thấy, bà Phạm Thị Trà G và ông Nguyễn Văn B do quen biết và được gia đình hai bên đồng ý, đã xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2019, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã An Th, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/12/2019, hôn nhân của bà G và ông B là hợp pháp. Bà G và ông B do quen biết và đi đến hôn nhân, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Theo bà G, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng bà đã ly thân hơn 01 tháng nay. Ông B vắng mặt và không thể hiện ý kiến về yêu cầu ly hôn của bà G. ét thấy tình cảm vợ chồng của bà G và ông B đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu của bà G được ly hôn với ông B phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về nuôi con chung: Bà G và ông B xác định quá trình chung sống bà G, ông B có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Tuấn Kiệt, sinh ngày 02/9/2020. ét thấy, cháu Kiệt đang sống cùng ông B, ông B vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện ý kiến về việc nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định về môi trường sinh hoạt của cháu Kiệt, bà G đồng ý để ông B được trực tiếp nuôi con chung là phù hợp nên được chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Ông B vắng mặt và không thể hiện ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Phạm Thị Trà G đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Xét ý kiến của bà G về việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận, bà G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 4 năm 2023 cho đến khi cháu Kiệt đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Do ông B không có văn bản gì trình bày vấn đề này, bà G xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu các đương sự có tranh chấp, sẽ được giải quyết B vụ án khác khi có đơn yêu cầu
Về án phí: Buộc bà Phạm Thị Trà G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Trà G đối với ông Nguyễn Văn B về việc ly hôn.
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Trà G và ông Nguyễn Văn B.
Về nuôi con chung: Bà Phạm Thị Trà G và ông Nguyễn Văn B có một con chung là Nguyễn Phạm Tuấn Kiệt, sinh ngày 02/9/2020. Giao con chung tên Nguyễn Phạm Tuấn Kiệt, sinh ngày 02/9/2020 cho ông Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Bà Phạm Thị Trà G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 4 năm 2023 cho đến khi cháu Kiệt đủ 18 tuổi.
Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Toà án có thể thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
2. Về án phí: Bà Phạm Thị Trà G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012166 ngày 10/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức. Bà G phải nộp thêm 300.000 đồng án phí còn thiếu.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Bến Lức; - THADS huyện Bến Lức; - UBND xã An Th; - Các đương sự; - Lưu HS, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Thu Thảo |