vanban.org

Bản án 31/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 08/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H cùng liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 26.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Việt S - Đỗ Phượng L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H cùng liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 26.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/DS-ST
Ngày 08 - 3 - 2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Minh Hoàng.

Bà Phạm Hồng Ân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 08 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 484/2022/TLST- DS ngày 07 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-DS, ngày 07 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).

Cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Bà Đỗ Phượng L (Đổ Phượng L), sinh năm 1980 (vắng mặt).

Ông Phạm Văn H, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Cùng cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 06/10/2022, các văn bản kèm theo và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày:

Vào ngày 21/6/2021 bà Đỗ Phượng L có hỏi vay của ông với số tiền là 22.000.000 đồng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận là 1,66%/tháng. Thời gian thanh toán là ngày 21/9/2021. Quá trình vay tiền thì bà L có ký biên nhận nợ ngày 21/6/2021. Từ khi vay tiền bà L không trả tiền cho ông cũng không đóng lãi, ông có liên hệ yêu cầu trả tiền nhiều lần nhưng bà L không thực hiện và cứ hứa hẹn cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H trả cho ông với tổng số tiền là 22.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày 21/6/2021 đến ngày xét xử vụ án.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H đúng quy định pháp luật. Nhưng bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H vắng mặt và không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1

Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa ông Nguyễn Việt S với bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H được xác định là “Hợp đồng vay tài sản” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H có nơi cư trú tại huyện Phú Tân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H không cung cấp chứng cứ và vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H.

Về nội dung tranh chấp:

Ông Nguyễn Việt S xác định giữa ông và bà Đỗ Phượng L có thỏa thuận vay tiền cụ thể là vào ngày 21/6/2021 bà Đỗ Phượng L có hỏi vay của ông với số tiền là 22.000.000 đồng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận. Thời gian thanh toán là ngày 21/9/2021. Quá trình vay tiền thì bà L có ký biên nhận nợ ngày 21/6/2021. Thời gian thanh toán là ngày 21/9/2021.

Bà Đỗ Phượng Lcó vay tiền của ông Nguyễn Việt S là thực tế xảy ra và để nợ quá hạn do bà L phải trả nợ gốc và lãi nhưng không thực hiện. Phía ông S đã nhiều lần yêu cầu bà L trả nợ nhưng bà L không thanh toán cho ông S. Ông S có cung cấp một Biên nhận nợ lập ngày 21/6/2021 có nội dung về việc bà Đỗ Phượng L có vay tiền của ông S và thời gian thanh toán là ngày 21/9/2021, bà Đỗ Phượng L có ký tên đúng như ông S trình bày. Đối với bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H vẫn chung sống với nhau như vợ chồng, mặc khác bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông Nguyễn Việt S cung cấp, bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H cũng không có yêu cầu phản tố. Do đó bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ông Nguyễn Việt S và buộc bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H trả cho Nguyễn Việt S tổng số còn nợ là 22.000.000 đồng là có cơ sở.

Về lãi suất: Theo Biên nhận nợ ngày 21/6/2021 có chữ ký của bà Đỗ Phượng Ldo ông S cung cấp thể hiện bà L cam kết đến ngày 21/9/2021 sẽ trả đủ tiền cho ông S. Do bà L không thực hiện nghĩa vụ trả tiền như đã cam kết nên ông S yêu cầu bà L trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ là phù hợp với quy định tại điều 468 của Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tiền lãi được tính như sau: Lãi suất 12%/năm, lãi ngày là 0,033%, tiền lãi tính từ ngày 21/6/2021 đến ngày xét xử ngày 08/3/2023 là 20 tháng 15 ngày (22.000.000 đồng x 11 tháng 15 ngày x 0,033%) = 4.465.000 đồng. Như vậy tổng số tiền nợ gốc và lãi là 26.465.000 đồng.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nay buộc bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26; 35; 39, 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H cùng liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 26.465.000 đồng (hai mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Buộc bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H cùng liên đới phải chịu 1.323.000 đồng (một triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng).

Ông Nguyễn Việt S đã nộp tạm ứng số tiền 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0018267 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay hoàn lại toàn bộ cho Nguyễn Việt S.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bà Đỗ Phượng L và ông Phạm Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ